Thơ xăm trên bầu vú
votancuong | 16 November, 2011 07:42
Phê bình văn học: khám phá giá trị tác phẩm và khai phá con đường sáng tạo
votancuong | 09 November, 2011 07:12
Hoạt động phê bình văn học trong phạm vi một địa phương và một quốc gia đang trong hiện trạng gánh chịu sự phàn nàn về những chứng tật phổ biến của nó và cả sự hoài nghi về sự hữu dụng của phê bình đối với sự phát triển của đời sống văn học.
Hiện tại, phê bình văn học của Việt Nam đang tồn tại ba kiểu phê bình: phê bình kiểu báo chí, phê bình kiểu văn nghệ sĩ và phê bình chuyên nghiệp (hàn lâm). Kiểu phê bình văn học báo chí và phê bình kiểu văn nghệ sĩ đang chiếm ưu thế về số lượng trên hầu hết các báo và tạp chí. Kiểu phê bình báo chí, người viết phê bình chủ yếu so sánh, đối chiếu và đánh giá về mức độ phản ánh hiện thực trong tác phẩm văn học so với hiện thực của đời sống xã hội. Kiểu phê bình nghệ sĩ, người viết phê bình chủ yếu khám phá cơ chế sáng tạo của nhà văn, nhà thơ và hiệu quả xã hội của tác phẩm văn học. Hai kiểu phê bình này thường đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về mặt tinh thần của người đọc. Chính vì thế nó chiếm được vị thế trong hoạt động lý luận phê bình văn học thời hiện đại. Đối với phê bình văn học theo kiểu chuyên nghiệp (hàn lâm), người viết phê bình khám phá, giải mã những giá trị nội tại của tác phẩm. Nhà phê bình văn học theo kiểu chuyên nghiệp thường dựa vào quan niệm của một hoặc nhiều hệ hình phê bình nào đó để giải mã, đánh giá những giá trị nội tại của tác phẩm. Phê bình văn học theo kiểu hàn lâm khó tìm được hiệu ứng xã hội và ít có sự cộng hưởng của bạn đọc nên nó khó tìm được vị trí quan trọng trong đời sống văn học.
Theo tìm hiểu của tôi, phê bình văn hoc Việt Nam hiện đại có hai chứng tật phổ biến đó là: phê bình phán xử (cả khen và chê) mang tính chủ quan, áp đặt và phê bình bỏ qua văn bản, không bám sát những giá trị nghệ thuật và tư tưởng nội tại của tác phẩm văn học. Kiểu phê bình văn học phán xử, nhà phê bình khám phá, đánh giá tác phẩm theo những quan niệm có sẵn, theo một định kiến nên dễ dẫn đến tình trạng khen chê một chiều, chủ quan và tuỳ hứng. Kiểu phê bình này từng thống soái hoạt động lý luận phê bình văn học suốt nhiều giai đoạn của lịch sử văn học. Kiểu phê bình văn học này vẫn còn rơi rớt trong một số bài phê bình văn học của những nhà phê bình quyền uy và một số nhà báo chuyên viết về văn học nghệ thuật. Kiểu phê bình văn học bỏ qua văn bản hiện khá phổ biến trong hoạt động phê bình văn học. Nhiều nhà phê bình khi viết phê bình về một tác phẩm văn học thường không bám sát các yếu tố nghệ thuật trong tác phẩm để phê bình, đánh giá mà chủ yếu viện dẫn những quan niệm về triết học, văn học nghệ thuật của các nhà tư tưởng, văn nghệ sĩ nổi tiếng để “úp chụp” vào tác phẩm. Phê bình kiểu này giống như đem “cái mũ” lý luận đội “lên đầu” tác phẩm. Người viết phê bình chủ yếu phô diễn sự hiểu biết, kiến thức của mình mà không hề hướng tới việc cảm thụ, khám phá sự bí ẩn của tác phẩm.
Nhận diện những chứng tật của phê bình văn học hiện đại chính là để tìm cách “chữa trị” chứng tật của nó. Những chứng tật của phê bình văn học Việt Nam hiện đại dù có vẻ trầm kha nhưng không phải là không thể chữa trị. Theo tôi, có hai cách chữa trị đó là: thứ nhất, mở rộng, tiếp thu và vận dụng có sáng tạo các hệ hình phê bình và thứ hai, tăng cường tính đối thoại, bình đẳng trong hoạt động phê bình văn học.
Để lý luận phê bình văn học ở một địa phương và một quốc gia phát triển và hòa nhập với xu hướng chung của thế giới, các nhà lý luận phê bình cần phải tiếp thu có sáng tạo các thành tựu của các hệ hình phê bình trên thế giới như: phê bình thi pháp học, phê bình phân tâm học, phê bình cấu trúc học, phê bình bản thể luận, phê bình ký hiệu học, phê bình hậu hiện đại…vv…Nếu người viết phê bình văn học nghèo nàn trong sự hiểu biết về các hệ hình phê bình văn học và chỉ vận dụng một hệ hình phê bình văn học để đánh giá các tác phẩm văn học sẽ dẫn đến tình trạng phê bình trở nên lạc hậu và độc tôn, không khám phá được những giá trị mới lạ của tác phẩm văn học. Điều này chẳng khác gì một người chỉ có trong tay duy nhất một chiếc chìa khóa nên không thể mở được nhiều cánh cửa để mở ra những căn phòng bí ẩn khác nhau.
Để lý luận phê bình ở một địa phương và một quốc gia phát triển, các nhà lý luận phê bình phải coi trọng tính nhân văn của tác phẩm lý luận phê bình. Tính nhân văn biểu hiện thông qua sự dân chủ, bình đẳng trong đối thoại, trao đổi giữa các chủ thể phê bình với nhau. Sự khác biệt trong cái nhìn, quan điểm sẽ mở ra cách nhìn, cách khám phá mới trong sự tiếp nhận, khám phá tác phẩm. Phê bình văn học mang tính nhân văn không chỉ coi trọng sự đối thoại mà còn cần có chủ hướng rõ ràng. Sự tìm kiếm những giá trị nhân văn biểu hiện chủ hướng của nhà phê bình. Chủ hướng của nhà phê bình cần hướng tới vẻ đẹp của lòng nhân ái, lòng trắc ẩn trước nỗi đau và thân phận của con người. Phê bình mang tính nhân văn hướng đến sự phát hiện những giá trị của cái đẹp và bộc lộ sự cảm thông, sẻ chia với những bất hạnh, rủi ro mà những con người vô danh, nhỏ bé phải gánh chịu trong cuộc sống.
Chức năng của phê bình văn học nhằm tạo cầu nối tinh thần giữa tác giả và bạn đọc, giữa tác phẩm và bạn đọc. Muốn vậy, phê bình văn học phải hướng đến sự khám phá, giải mã những giá trị thẩm mỹ, tư tưởng tiềm ẩn của tác phẩm. Chức năng của phê bình văn học còn biểu hiện ở chỗ nhà phê bình phải là người định hướng, gợi mở cho nhà văn, nhà thơ trong việc khai phá con đường sáng tạo. Nhà phê bình văn học giữ vai trò là người chỉ đường và đồng hành cùng nhà văn, nhà thơ trên con đường sáng tạo.
Mỹ Tho, tháng 11-2011
V.T.C
Chiều kích tính cách, nội tâm nhân vật và con đường của truyện ngắn hiện đại vùng đồng bằng sông Cửu Long
votancuong | 01 November, 2011 08:25
Tôi xin bắt đầu câu chuyện về truyện ngắn vùng đồng bằng sông Cửu Long bằng cách nhắc đến một nhân vật trong truyện ngắn: “Tiếng gọi ngàn” của nhà văn Đoàn Giỏi. Đó là nhân vật con heo rừng hay còn gọi là con Vá. Hình tượng nhân vật con heo rừng trong truyện ngắn: “Tiếng gọi ngàn” của Đoàn Giỏi mang tính ẩn dụ về bi kịch khát vọng tự do của con người. Con Vá được những người thợ săn bắt về nuôi để thuần dưỡng. Qua nhiều thăng trầm, cuối cùng, con Vá bị đưa vào sở thú và nỗi nhớ đại ngàn đã khiến con vật chết dần mòn trong tuyệt vọng. Câu chuyện về con Vá không chỉ bộc lộ về số phận loài vật mà còn gợi cho người đọc liên tưởng về khát vọng sống và bi kịch về cuộc sống chật hẹp, tù túng và khát vọng tự do của con người. Truyện ngắn: “Tiếng gọi ngàn” thấm đẫm tư tưởng nhân văn và đặt ra những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa sự sống và khát vọng sống của con người. Hiệu quả thẩm mỹ đối với sự tiếp nhận của người đọc trong truyện ngắn: “Tiếng gọi ngàn” của nhà văn Đoàn Giỏi chính là nhờ ông đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật con heo rừng. Nhân vật trong truyện ngắn tưởng như nhỏ bé và vô danh nhưng chiều kích của nó không hề bé nhỏ mà gây ấn tượng mạnh đối với thế giới thẩm mỹ của người đọc trong quá trình tiếp nhận.
Xét về mỹ học tiếp nhận, nội tâm, tính cách nhân vật của truyện ngắn thường dễ gây ấn tượng và có sức sống lâu bền hơn các yếu tố nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn như: cốt truyện, kết cấu tác phẩm, không gian và thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ trần thuật của nhà văn… Nhân vật truyện ngắn thường mang bóng dáng quan niệm của nhà văn về con người và mang dấu ấn tính cách con người của một thời đại. Nhân vật AQ của Lỗ Tấn, Chí Phèo của Nam Cao, ông Thuấn trong: “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp, cô gái điếm bị câm trong: “Tiếng hát và tiếng khóc” của Trang Thế Hy đã tạo nên dấu ấn độc đáo về tính cách, nội tâm con người và thể hiện giá trị tư tưởng, nghệ thuật của truyện ngắn mỗi thời đại. Chiều kích nội tâm nhân vật A.Q được Lỗ Tấn khắc họa qua sự ý thức của nhân vật về phép thắng lợi tinh thần. Chiều kích nội tâm, tính cách của nhân vật Chí Phèo được Nam Cao miêu tả qua khát vọng trở về cuộc sống lương thiện của một con người bị tha hóa. Chiều kích tính cách nhân vật ông tướng về hưu tên Thuấn được Nguyễn Huy Thiệp thể hiện qua bi kịch sự cô độc, lạc lõng giữa những toan tính lạnh lùng của con người thời hậu chiến. Chiều kích nội tâm nhân vật cô gái điếm bị câm trong truyện ngắn: “Tiếng hát và tiếng khóc” của Trang Thế Hy thể hiện cái nhìn nhân bản của nhà văn về những con người vô danh nhưng vẫn mang trong tâm hồn vẻ đẹp của cảm xúc yêu thương đối với con người và cuộc sống.
Tính cách con người vùng đồng bằng sông Cửu Long thời hiện đại hội tụ tầm vóc con người thời đại mới, đó chính là khả năng tự ý thức về cái tôi và khả năng nhận thức về con người, xã hội và thiên nhiên. Việc xây dựng tính cách nhân vật theo kiểu đóng băng theo những khuôn mẫu định sẵn như: tính cách hào hiệp, giàu nghĩa tình, phóng khoáng và chân chất hay gian ác, sống nặng về bản năng không còn phù hợp với hệ hình thẩm mỹ của truyện ngắn hiện đại. Để minh họa cho kiểu xây dựng nhân vật theo “khuôn mẫu” định sẵn, tôi xin đề cập đôi nét về nghệ thuật xây dựng nội tâm, tính cách nhân vật trong truyện ngắn: “Cánh đồng bất tận” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Tác phẩm: “Cánh đồng bất tận” đã thành công trong việc tạo ra hiệu ứng thẩm mỹ trong quá trình tiếp nhận của người đọc. Tác phẩm này đã truyền đến cho người đọc thông điệp về mối quan hệ nhân quả của luận đề: “Cha ăn mặn, con khát nước”. Tuy nhiên, nếu xét về nghệ thuật xây dựng nội tâm và tính cách nhân vật thì theo tôi, tác phẩm này chưa tạo được hiệu quả thẩm mỹ đối với người đọc. Nhân vật người cha trong truyện ngắn: “Cánh đồng bất tận” được khắc họa sơ lược và “đóng băng” về tính cách. Sự tha hóa của nhân vật người cha thông qua việc lang chạ, chung đụng với nhiều phụ nữ nhằm trả thù đời do nguyên nhân từ việc người vợ bỏ nhà theo trai chưa đủ sức thuyết phục người đọc. Tính cách nhân vật người cha được Nguyễn Ngọc Tư miêu tả thuần về bản năng, theo kiểu tự nhiên chủ nghĩa nên chưa tạo được sức lay động, sự ám ánh và sự thức tỉnh lương tri đối với người đọc. Diễn biến tâm trạng nhân vật cô con gái ở đoạn cuối truyện ngắn trong tình thế bị nhiều người xâm phạm nhân phẩm, thể xác được Nguyễn Ngọc Tư miêu tả quá tỉnh táo và “lạnh” đến mức không phù hợp với diễn biến nội tâm của nhân vật. Theo đúng qui luật tâm lý của con người thì trong tình thế như vậy nhân vật phải biểu lộ trạng thái tâm lý hoảng loạn, kinh hoàng. Trong truyện ngắn này, Nguyễn Ngọc Tư đã tập trung miêu tả tâm trạng nhân vật cô con gái quan sát thái độ và phản ứng của nhân vật người cha khi phải bắt buộc chứng kiến hoàn cảnh đau lòng của người con. Theo tôi, khi khắc họa nội tâm và tính cách hai nhân vật người cha và cô con gái trong truyện ngắn này, Nguyễn Ngọc Tư đã viết theo một “khuôn mẫu” tính cách con người đã định sẵn. Chính vì thế, nhân vật trở nên xơ cứng, thiếu sự sinh động và xét về mặt thẩm mỹ tiếp nhận, nghệ thuật xây dựng nội tâm và tính cách nhân vật của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư vẫn chưa tạo được sự hấp dẫn và chưa tạo được hiệu quả thẩm mỹ đối với người đọc.
Thi pháp truyện ngắn hiện đại là quá trình kiếm tìm, khám phá phương thức biểu hiện nhằm khắc họa tính cách nhân vật với sự đa chiều kích và những bí ẩn thẳm sâu của nội tâm. Nhà văn hiện đại phải khám phá chiều kích cái tôi chân thực của con người, chứ không thể chỉ miêu tả cái tôi bề ngoài, cái tôi với vai trò xã hội. Thời hiện đại, chiều kích nội tâm, tính cách của nhân vật truyện ngắn được đo bằng tầm nhìn, diễn biến tâm trạng và khả năng tự ý thức của nhân vật về những vấn đề nhân sinh, về mối quan hệ xã hội, mối quan hệ với thiên nhiên và mối quan hệ với cái tôi thẳm sâu, cái tôi thật sự trong mỗi con người.
Truyện ngắn truyền thống chú trọng vào việc khắc họa diễn biến hành động, số phận nhân vật trong mối tương quan với biến cố của sự việc. Truyện ngắn hiện đại tập trung khắc họa những biến đổi vi tế của tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trong những khoảnh khắc có ý nghĩa nhất của đời người. Nội tâm, tính cách nhân vật trong truyện ngắn hiện đại vừa mang nét dị biệt, độc đáo vừa mang bóng dáng nội tâm, tính cách của con người hiện đại. Cái nhìn của nhà văn hiện đại hướng đến cả hạt mầm của cái thiện và cái ác, vùng sáng và vùng tối trong tiềm thức và nội tâm nhân vật. Trong truyện ngắn hiện đại, nhà văn thường coi trọng, chăm chút vào việc thể hiện câu mở đầu của tác phẩm. Câu mở đầu không chỉ mở ra không gian và thời gian nghệ thuật, hé lộ về tính cách nhân vật mà còn gợi ra cho bạn đọc hướng tiếp nhận và hứa hẹn sự thú vị trong quá trình khám phá, giải mã tác phẩm của bạn đọc. Nhìn ở góc độ khắc họa diễn biến tâm trạng nhân vật, truyện ngắn hiện đại gần với thơ. Ở truyện ngắn hiện đại, nhà văn khi khắc họa diễn biến tâm trạng nhân vật thường chú ý tới những khoảnh khắc bộc phát, bùng vỡ của cảm xúc nên giống với sự thăng hoa, tuôn trào cảm xúc của chủ thể trữ tình trong bài thơ.
Con đường của truyện ngắn hiện đại vùng đồng bằng sông Cửu Long đang hướng tới chân trời mở của hệ hình thẩm mỹ hiện đại và thi pháp mới. Con đường này mở ra cái nhìn mới của nhà văn về chiều kích nội tâm, tính cách của con người. Đó chính là việc khám phá và thể hiện những khoảnh khắc, nhịp sống của thời đại mới. Đó chính là việc khám phá và thể hiện sự đa diện, đa chiều trong nội tâm và tính cách của con người. Con đường truyện ngắn hiện đại của các nhà văn vùng đồng bằng sông Cửu Long luôn là sự bắt đầu và là sự khám phá liên tục về nội tâm, tính cách của con người của thời đại mới.
Mỹ Tho, tháng 10-2011
V.T.C
Nguyễn Thạnh - Người cuồng mê thơ cuối cùng
votancuong | 25 October, 2011 14:53
Nhà thơ Nguyễn Thạnh
Có người cuồng mê thơ như cuồng tín một lý tưởng, một tôn giáo nào đó. Tôi không bàn đến sự mê muội, lầm lạc của họ nhưng tôi nghĩ họ là người hạnh phúc vì được sống tận cùng với trạng thái cảm xúc trong nội tâm của mình. Nhà thơ Nguyễn Thạnh là người như vậy. Thời thập niên 80 của thế kỷ XX tôi đã nghĩ về ông như vậy. Bây giờ, tôi vẫn vẹn nguyên ý nghĩ rằng Nguyễn Thạnh là người cuồng mê thơ cuối cùng của thế kỷ XXI.
Cuồng mê là trạng thái cảm xúc mãnh liệt, dồn nén và bộc phát của một người hướng về một đối tượng là con người, sự vật. So với sự cuồng mê tiền tài, danh vọng, quyền lực, sự cuồng mê thơ xem ra tinh khiết và vô hại hơn. Sự cuồng mê thơ của Nguyễn Thạnh biểu hiện qua phong thái, sự ứng xử và hành động của ông trong việc sáng tác thơ, đọc thơ, tranh luận về thơ và tất cả những gì liên quan đến thơ.
Phong thái, giọng điệu và tính cách của Nguyễn Thạnh giống một nhà hùng biện hơn một nhà thơ. Trong tâm trí của tôi, tâm hồn nhà thơ thường ẩn chứa nỗi u sầu và bi quan. Có khi tôi nghĩ, Nguyễn Thạnh là nhà hùng biện bẩm sinh nhưng ông lại không dấn thân vào công việc hùng biện mà đi lạc vào thế giới của thi ca. Chất hùng biện thấm đẫm trong từng câu thơ và nhiều bài thơ của nguyễn Thạnh. Ông hùng biện trong sự cô độc và bị ám thị bởi chính giọng thơ hào sảng của mình. Giọng thơ của ông giống tiếng thét lảnh lót hơn giọng điệu du dương, êm ái. Có khi tôi tự hỏi Nguyễn Thạnh là nhà hùng biện làm thơ hay là thiên thi dùng thơ để giúp con người tỉnh thức về bản thể của mình trong mối tương quan với sự bí ẩn của vũ trụ? Con người chịu sự ân sủng của vũ trụ nhưng con người lại thường tự phong cho mình ngôi vị chúa tể của vũ trụ. Đây không chỉ là biểu hiện của thói vô ơn mà còn cho thấy xét về mặt bản chất con người vốn ảo tưởng và tự cao về quyền lực của mình đối với thiên nhiên, vũ trụ.
Nghề giáo vốn mô phạm nên nhiều người làm thơ sống bằng nghề dạy học thường chừng mực trong phong thái và tác phẩm thơ của họ thường tròn trịa, lưng lửng trong cảm xúc và chuẩn mực về ngôn từ. Dù là giáo viên dạy văn nhiều năm nhưng cả phong thái và thơ ca của Nguyễn Thạnh đều không giống như vậy. Giọng điệu sang sảng, phong thái hoạt bát, Nguyễn Thạnh thường trở thành trung tâm của các cuộc đàm đạo, các diễn đàn văn học. Ông có tài trong việc đặt “bộc phá” tư tưởng trong những cuộc đàm đạo và châm ngòi nổ. Đa phần trong các cuộc tranh luận về vũ trụ và thơ Nguyễn Thạnh đều dẫn người tranh luận vào mê hồn trận và nhiều khi chính ông cũng bế tắc không thoát được mớ bùng nhùng của những luận điểm, luận cứ mà chính ông đã tung ra.
Tư duy triết học thường thể hiện sự tra vấn về nguồn gốc, thân phận của con người và sự bí ẩn của sự vật, vũ trụ. Phẩm chất thi ca của Nguyễn Thạnh biểu hiện ở chỗ ông khắc họa cái nhìn đa chiều của mình đối với bản thể con người trong mối tương quan với vũ trụ. Con người sống chịu sự chi phối của những qui luật tự nhiên và vũ trụ nhưng con người thường bị chìm đắm trong lầm lạc, u mê của lý trí đến nỗi không nhận ra trái đất và vũ trụ có mối quan hệ mật thiết với sự sống của con người.
Thơ Nguyễn Thạnh giống như những cung bậc, sắc thái của một bản giao hưởng. Nguyễn Thạnh là nhà thơ đứng ngoài mọi trào lưu, trường phái, khuynh hướng thi ca. Tư duy thơ của Nguyễn Thạnh được đo bằng chiều kích của trái đất và vũ trụ. Đối với Nguyễn Thạnh, mọi sự vật trong vũ trụ, từ chiếc lá cho đến hòn đá, cánh chim và trái đất, vũ trụ đều có sự bí ẩn và số phận riêng.
Nguyễn Thạnh là kiểu nhà thơ đề cao tư tưởng, ngợi ca sự duy lý trong thi ca. Ông giống như một người đang mang vác những tư tưởng khổng lồ, khệ nệ băng qua miền sa mạc hướng về ốc đảo của thi ca.
Thơ Nguyễn Thạnh giúp người đọc tỉnh thức về tầm vóc tư tưởng và chiều kích tư duy con người so với sự vô tận của vũ trụ. Có người bảo rằng tư duy thơ Nguyễn Thạnh mang tính khái quát, gần với tư duy triết học và khoa học. Tư duy thơ là kiểu tư duy cụ thể và hình tượng. Nguyễn Thạnh không viết về sự bí ẩn của một con đò, một bến sông, một chiếc lá, một giọt sương mà ông thường hướng cảm hứng về chiều kích, tầm vóc tư tưởng con người trong mối giao hòa với vũ trụ.
Tôi nghĩ nếu có một người ngoài hành tinh ghé thăm trái đất và ngỏ ý muốn đọc thơ về mối tương quan giữa sự sống con người và vũ trụ thì hay nhất là mời họ đọc tập thơ: “Bài thơ viết bên bìa vũ trụ” của Nguyễn Thạnh.
Tôi thường hình dung, trong cõi mênh mông và vô tận của vũ trụ, Nguyễn Thạnh là nhà thơ đặt tâm thế của mình giữa “cái rốn” của vũ trụ và chiếu rọi cái nhìn hướng về nhiều chiều kích khác nhau. Ông là nhà thơ không chỉ thao thức với vận mệnh của con người mà còn thổn thức và hòa nhịp tâm hồn với từng nhịp sống của vũ trụ.
Mỹ Tho, tháng 10-2011
V.T.C
PHIÊN HỌP CÕI TÂM LINH
Ai sẽ chủ trì phiên họp: hợp nhất cõi tâm linh
Phật Thích ca, Chúa Giê su hay Mohammed
Phiên họp khẩn để bàn về sự sống còn trái đất
Con người ngày càng tha hóa, dã man
Các giáo chủ, triết gia, nhà thơ, nhà khoa học lừng danh
Đã trên dưới 2000 năm đem ánh sáng tâm linh soi vào cuộc sống
Nay thẩm định bổ sung những gì con người kỳ vọng
Để trái đất này mãi mãi là Thiên Đường
Phật Thích ca, Chúa Giê su, Mohammed vô ngôn
Các Ngài đã nói hết những gì cần nói …
Nhà thơ với cảm xúc dạt dào đạt nhiều câu hỏi
Liệu Thánh kinh và Thơ ca có bốc cháy giữa đường
Sao con người ngoảnh mặt với tình thương?
Coi đồng tiền là đỉnh Olympia cứu cánh
Các hiền triết Đông Tây trầm ngâm rồi bật tiếng
Lão Tử bàng hoàng với “học thuyết vô vi”
Con người sống nghịch thiên - thôi, đừng sống nữa làm gì?
Khổng Tử nhíu mày với “tam cương, ngũ thường, tứ đức”
Chữ Lễ cả ta loài người làm rối bới như tóc
Nghi thức gì như cỏ mọc rừng hoang
Đạo “tu, tề, trị, bình” các nguyên thủ quốc gia coi như một tai ương
Nên trên loạn nói dưới không nghe là tất yếu
Aristote, Platon lặng im khó hiểu!
Jean Paul Sartre vẫn ào ào với triết lý Hiện Sinh
Xã hội Phương Tây sống: làm việc rồi làm tình
Theo mệnh lệnh của tự do và cảm giác
Bất chấp tương lai,
hoài nghi,
duy lý …
Tình dục - tình người - chung chạ - hợp tan
Các Mác tóc râu như sư tử đứng lên
Tay cầm 6 cặp phạm trù với
3 quy luật
Hạnh phúc là đấu tranh
Vì sao giai cấp công nhân suốt đời vô sản?
Nietzche vẫn ngang tàn với Triết Lý cái búa - đập tan:
Mọi thần tượng - đền đài bất di bất dịch
Nietzche hùng biện, biện minh: Con người hãy tin vào bản ngã
Đứng ngang hàng với Trời Đất, Thánh Thần
Nietzche cũng say sưa với Triết lý Siêu nhân
Con người phải là nốt son của vũ trụ
Các nhà Vật lý thiên văn nhìn trời xanh rồi do dự
S.Hawking tuyên bố thẳng thừng:
Không có Thượng Đế quyền năng
Vũ trụ mọc lên từ vụ nổ Big Bang
Các dãy Ngân hà, hệ Mặt trời sinh thành ngoạn mục
Con người và vạn kiếp sinh linh dần dần xuất hiện
Đến bây giờ loài người vẫn ngơ ngác trước tự nhiên
NASA giật mình, hốt hoảng, cuống lên
Hãy mau mau di dời loài người lên cung Trăng, Sao Hỏa
Trái đất lệch trục quay, hành trình ta quá tải
Lỗ thủng nào làm phá sản môi sinh
Hãy hợp lực cõi dương trần và vạn kiếp cõi tâm linh
Thành sức mạnh siêu nhiên đẩy khối đá không lồ sắp va vào trái đất
Từ bìa vũ trụ có nhà thơ hùng hồn lên tiếng:
Cần lập ngay Hội đồng Huyền nhiệm cứu rỗi loài người
Gồm Giáo chủ, Triết gia, Nhà thơ, Nhà khoa học
Hãy hợp nhất các học thuyết, tín điều thành Vũ Trụ Kinh cho loài người cùng đọc
Với Đại Thánh Đường là vũ trụ - vũ không
Tôn giáo này là Vũ Trụ Giáo toàn năng
Với tôn chỉ: Tự do tuyệt đối
Tự do hóa thân - Tự do hóa giải
Biến buồn thành vui, chết thành sống vĩnh hằng
Được tồn tại trên thế gian và cõi vũ không - siêu mộng
Lấy Vũ Trụ Kinh làm phép màu cho sự sống
Với thông tuệ đa tầng
Và trái tim Tiên Nguyên
Bìa Vũ Trụ, tháng 10/2011
NGUYỄN THẠNH
Gieo và gặt
votancuong | 25 October, 2011 08:49
Hạt mồ hôi
Nở đóa hoan ca da thịt
Tắm gội thê thiết suối nguồn
Hạt hạt rơi
Gieo khoảnh khắc
Gặt vô tận
Hôi hổi hương tình
Tháng 10-2011
V.T.C
Những chiếc bóng vô cảm
votancuong | 20 October, 2011 10:18
(Xúc cảm về câu chuyện của bé Duyệt Duyệt ở thành phố Phật Sơn, Trung Quốc)
Một sinh linh bé bỏng
Quằn quại trên đường
Hai hung thần mất hút…
Một bóng người đi qua
Hai bóng người đi qua
……
Mười ba bóng người đi qua
…..
Thoi thóp sự sống
Dửng dưng những bóng người đi qua…
May còn bóng người già nua
Nâng nát tan hình hài ấu thơ
Ơi hời!
Tình người
Lưu lạc miền sa mạc chết.
Trưa 20-10-2011
V.T.C
Thơ xăm trên bụng gái giang hồ
votancuong | 10 October, 2011 16:24
Sói thơ
votancuong | 29 August, 2011 14:00
Tặng Nguyễn Hữu Hồng Minh
Gã - con sói thơ
Gã lùng sục suốt đêm đói mộng ảo bánh-trăng mười sáu
Gã lùng sục suốt ngày đói đô la âm phủ gửi tặng oan hồn chết khát cái đẹp
Gã moi móc tim gan suốt tháng bày tiệc thơ mời nàng thơ cõi mộng
Gã moi móc trí não suốt năm bào chế thuốc chữa trị suy dinh dưỡng tâm hồn
Gã - con sói chạy rong cõi tạm tìm chỗ trú ẩn cõi thiêng
Gã - con sói cô độc đói khát giữa bầy đàn mê cuồng máu thịt
Gã tự bứt trụi bộ lông-áo giáp sự sống bịt kín lỗ thủng lịch sử
Gã tru tiếng thê lương hòa điệu giọng nói mơ hồ
Gã tự róc thịt da lấy bộ xương chống đỡ chất trụ đạo đức suy đồi
Gã khoét tận đáy lòng thẳm sâu tìm bí ẩn vỉa từ sự sống
Gã mơ rục xương phủ che màn mưa châu thổ…
Sói thơ - gã
Nguyễn Hữu Hồng Minh.
Mỹ Tho, tháng 08-2011
V.T.C
* Chữ in nghiêng: Tên tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh
Người đàn bà bán ớt
votancuong | 25 August, 2011 07:41
Những đốm lửa cay thiêm thiếp góc chợ chiều
Những trái ớt đỏ xát rát lời rao ngọt lịm
Người đàn bà bán vị đắng cay
Ướp nhạt nhẽo hồn người phố chợ
Những trái ớt đỏ cháy lên đốm lửa khát khao
Ai mặc cả sức nóng ngọn lửa?
Ai bán mua đắng cay đời người?...
Chợ vãn sẫm bóng hoàng hôn
Những trái ớt lắt lay đốm lửa
Thắp sáng nỗi mong chờ.
V.T.C
Nhà thơ Trần Đỗ Liêm viết về: "Nhà thơ và cuộc lưu đày xứ mộng"
votancuong | 02 August, 2011 09:10
Nhà thơ Trần Đỗ Liêm
Nhà thơ Võ Tấn Cường vừa trình làng một tác phẩm mới đó là: “Nhà thơ và cuộc lưu đày xứ mộng.” Đây không phải là tập thơ mà là tập tiểu luận và phê bình thơ.
Nếu bạn đọc theo dõi nhiều trên văn đàn (kể cả báo viết và trên mạng) thì việc ra đời của cuốn sách phê bình tiểu luận của tác giả Võ Tấn Cường chỉ là cái bắt buộc phải có của một người tâm huyết hơn chục năm nay, bỏ bao công sức cho việc nghiên cứu và phê bình văn học.
Có thể nói giới văn sĩ Tiền Giang rất hân hoan đón nhận tác phẩm tiểu luận phê bình này; vì đã từ rất lâu rồi ở Tiền Giang nói riêng và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung có quá ít tác phẩm về phê bình tiểu luận được ấn hành. Trong các cuộc tổng kết đánh giá về sáng tác văn học của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhiều năm nay đều có chung nhận định: “mảng phê bình tiểu luận còn quá yếu”.
“Nhà thơ và cuộc lưu đày xứ mộng” của tác giả Võ Tấn Cường đã gởi đến người đọc hai thông điệp. Một là tiểu luận về thơ và phê bình một số tác phẩm của một số nhà thơ trong nước. Như tôi biết thì những bài in trong tập này đã được tác giả chọn lọc trong rất nhiều bài viết của mình đã công bố trong những năm qua. Song chừng đó cũng đủ để tác giả thể hiện tư duy, nhân cách và nhận định của mình đối với thơ và một số tập thơ, nhà thơ mà tác giả đã đọc. Những tập thơ và tác giả thơ do nhà thơ Võ Tấn Cường chọn lọc phê bình trong tập này đại diện cho nhiều thế hệ, những trường phái khác biệt nhau về phong cách, thể loại, nhưng nhìn chung họ đều cùng là “thiên sứ” của “tình thương và cái đẹp”
Về căn bản, có thể nói tôi đồng cảm, chia sẻ với những gì nhà phê bình Võ Tấn Cường đưa ra trong mảng tiểu luận về thơ đặc biết là những bài “Sự lệch chuẩn của ngôn ngữ thi ca”, “Nhà thơ và cuộc lưu đầy xứ mộng”, “Thơ ca và sự tầm thương hóa”…Ở đó là những nhận định, quan điểm và suy nghĩ rất nghiêm túc có chiều sâu, đã được nghiên cứu kỹ và chiêm nghiệm qua thực tế cuộc sống. Những lời nhắn nhủ, cảnh báo, những mong muốn của tác giả đối với nhà thơ là rất tâm huyết, có cơ sở và cũng là mong muốn của hầu hết người đọc, yêu thơ; những người luôn hướng tới vẻ đẹp thuần khiết nhưng sâu sắc của con người. Trên quan điểm nhất quán “thơ là kết tinh những gì đẹp đẽ tinh túy nhất của văn học và tình thương con người”, trong suốt nội dung cuốn sách, tác giả đã lựa chon một cách tiếp cận thông minh, chính xác vào cốt lõi của thi ca.
Nhà thơ Võ Tấn Cường được trang bị một cách bài bản kiến thức văn học từ trường phổ thông đến trường đại học (anh tốt nghiệp khoa ngữ văn trường Đại học sư phạm Tp.Hồ Chí Minh) nhưng với anh những kiến thức đó chỉ là cơ sở cho những chuyên luận của anh về thơ, cái kiến thức làm nên các tác phẩm tiểu luận phê bình của anh lại nằm ở tâm thức, bản chất con người của anh do anh tích lũy được trong cuộc sống hàng ngày. Không thể phủ nhận tính quyết liệt của anh trong các bài viết tranh luận đề cập trên văn đàn (thậm chí có nhiều người còn cho là anh đi quá xa giới hạn thông thường), nhưng không phải cứ phá vỡ giới hạn hiện có để tỏ thái độ của mình lúc nào cũng sai mà theo tôi nghĩ, ngược lại có nhiều khi lại là bắt đầu cho sự sáng tạo mới.
Trong tác phẩm “Nhà thơ và cuộc lưu đầy xứ mộng” có hai phần, tiểu luận và phê bình, tác giả Võ Tấn Cường luôn tuyệt đối trung thành với quan điểm: Thi ca phải luôn phải hướng về “cái đẹp và nỗi khát khao hòa điệu vào cuộc sống”, theo tác giả cái đẹp luôn là xứ mộng mơ và cũng là đích cuối cùng của nhà thơ đích thực và họ luôn tận nhân lực một đời để đạt tới.
Tất nhiên “tận nhân lực” là một điều kiện cần và bắt buộc cho mọi con người khi họ muốn đạt được những điều họ ham muốn, song khi kết thúc cuộc đời thì điều họ đạt được chưa chắc đã là toàn bộ mong muốn của họ. Nhưng theo tôi kết quả cuối cùng mà bạn thu được khi bạn đã tận nhân lực suốt đời mình là số phận của bạn đã được trời định tới đó. Nhà phê bình Võ Tấn Cường lại viết “Xứ mộng không ở đâu xa, nó thấp thoáng đâu đây, nó ẩn sâu trong bản ngã…” thế thì rõ ràng “xứ mộng” của anh không phải là siêu thực mà ngược lại rất thực. Chẳng phải Đức phật Thích Ca cũng đã từng dậy “Trong con người luôn tiềm ẩn điều thiện và những điều tốt đẹp” đó sao.
Yếu tố quan trọng bậc nhất của thi ca là ngôn từ (khi viết là chữ) nhà phê bình Võ Tấn Cường cũng rất quan tâm vấn đề này, anh viết “nhà thơ sinh ra chữ và chữ sinh ra nhà thơ” tôi tán thành quan điểm này. Có ngôn từ mới làm thơ. Chỉ có “những nhà thơ thả hồn theo sự dẫn dắt của ngôn từ thi ca” khi “đắm chìm trong thế giới của siêu văn bản” và hòa nhập cùng “độ âm vang của nhịp điệu trái tim hòa nhập với nhịp điệu của đời sống con người khi đó những áng thơ bất hủ sẽ ra đời”, là người trong cuộc (làm thơ) tôi đã chiêm nghiệm, và xin xác nhận tính chính xác về những nhận xét trên của tác giả.
Tôi cho rằng ngôn từ có tính quyết định sự thành bại của bài thơ, ngôn từ là vốn rất quan trọng để nhà thơ sáng tác bài thơ, nó cũng như tiền vốn của doanh nhân, không có ngôn từ làm sao có thơ? Ngôn từ nghèo nàn, ngôn từ không được sáng tạo làm gì có thơ hay!
Võ Tấn cường viết “Thơ hay bao giờ cũng là cuộc hôn nhân kỳ diệu giữa cao thanh và ý nghĩa, hình ảnh” đúng qúa đi chứ, chẳng thế mà biết bao nhiêu bài thơ được phổ nhạc và nó sống từ thế kỷ này sang thế kỷ khác khi mà tác giả nó trở thành tro bụi của vĩnh hằng. Nhưng theo tôi nếu thơ có cả màu sắc hài hòa hợp lý thậm chí có khi phi lý thì bài thơ không chỉ hay mà còn đẹp nữa, chẳng phải đã có rất nhiều bức tranh, ảnh nổi tiếng được sáng tác từ hình ảnh màu sắc của những câu thơ đó sao?
Trong bài tiểu luận “Tản mạn về hành trình của thi ca” có mấy ý tôi chưa thống nhất với nhà phê bình Võ Tấn Cường. Ví dụ anh viết “Quyền hành của nhà thơ là làm thanh lọc tâm hồn mình với người đọc bằng cách chế tác ra một thứ ngôn ngữ độc đáo chứ không có quyền làm nhiễm độc tư tưởng, tình cảm của mình với mọi người bằng thứ ngôn ngữ hũ nút bệch hoạn cẩu thả…” Quan điểm của anh tôi đồng ý nhưng ở đây cần phân định cho rõ nếu những người chế tác ra bài thơ mà ở đó gồm “những thứ ngôn ngữ hũ nút bệnh hoạn cẩu thả…” thì có thể gọi đấy là thơ và tác giả của nó có thể được gọi là nhà thơ? Câu trả lời ở đây là không! Chúng ta không nên đánh đồng một số người viết loại văn như vậy với Thơ và Nhà thơ. Dù không thành định nghĩa hàn lâm nhưng tôi và chắc nhiều người đã tán thành cách lý giải thơ và nhà thơ của anh ở những trang tiểu luận trước rồi.
Một bài quan trọng trong phần tiểu luận nhà thơ Võ Tấn Cường cho rằng thơ tự do là con đường tất yếu của thi ca, nó phù hợp với thời đại, nó là dòng thơ hiện đại… Thực ra nhận định này không mới, ở miền Bắc ngay từ thập niên 50 và ở miền Nam cũng thời điểm đó đã có rất nhiều người phán đoán khẳng định và không thiếu người làm thơ kể cả một số nhà thơ đã định danh, đã sáng tác và cho ra đời hàng tập nào là thơ bậc thang, thơ văn xuôi, thơ không vần…Nhưng rồi đã hơn nửa thế kỷ trôi qua… chưa thấy bài thơ nào sống ở trong lòng công chúng. Cũng chưa thấy nhà thơ nào được độc giả tôn vinh là nhà thơ tự do của thời đại !?
Theo tôi, nếu nói về thể loại thì cho đến nay thơ tự do vẫn chưa định hình được trong lòng người đọc, tuy nhiên chữ “tự do” cần được nói cho rõ nếu “thơ tự do” có nghĩa không phải là thơ “lục bát” “thơ đường luật” hay “song thất lục bát” thì tôi chấp nhận, còn nếu “thơ tự do” là một bài văn chỉ gồm những từ ngữ được chắt lọc không vần điệu, không tứ rất khó thuộc thì nếu không phải là văn xuôi hay thì cũng chỉ là cầu nối giữa thơ và văn xuôi.
Không thể phủ nhận thơ hay cần và nên phải được phổ biến rộng rãi trong độc giả để giáo dục tính thẩm mỹ cho con người, do đó vần điệu chẳng phải là một lợi thế để cho thơ đi vào tâm hồn người đọc?
Cuộc sống vật chất đang như trận cuồng phong lôi cuốn hầu hết mọi người Việt Nam (vốn bao đời nay bị dồn nén trong đói nghèo vật chất, lạc hậu về kỹ thuật công nghệ) lao vào việc kiếm tiền, hưởng thụ gấp gáp. Một lối sống ganh đua hình thức, tôn sùng vật chất quá đáng đang thịnh hành, một thứ mốt thời thượng với hầu hết giới trẻ và không dưới một nửa giới trung niên coi bữa nhậu đặc sản với rượu đắt tiền, vài món đồ thời trang hàng hiệu là tiêu chuẩn để đánh giá đẳng cấp xã hội của con người.
Vật chất là nền tảng của cuộc sống, nhưng vật chất không quyết định được sự hình thành một nền văn hóa thuần khiết và độc đáo. Rất nhiêu dân tộc chưa bao giờ có vật chất đầy đủ thừa mứa nhưng họ đã tạo ra cho mình nền văn hóa phong phú độc đáo có giá trị cao trong mọi thời đại.
Khi nền chính trị tiến bộ của thế giới xây dựng trên địa cầu thì vật chất là cái mọi dân tộc đều có thể thụ hưởng như nhau, nhưng văn hóa đích thực là một phạm trù không thể hòa tan, văn hóa sẽ hội nhập trong một xã hội giầu có văn minh. Văn hóa không có mới, cũ mà chỉ có trước sau, không có cao thấp chỉ có sự khác biệt. Thơ là một phần của văn hóa, do vậy thơ cũng không ngoài quy luật đó.
Cuộc sống hiện đại chuyển động rất nhanh, con người cũng vậy! Nhưng sau những phút giờ thời gian nhanh ấy người ta cũng cần thư giãn nghỉ ngơi trong một không gian riêng chầm chậm để cân đối lại trang thái sinh học cơ thể; hơn thế nữa cuộc đời con người có ba giai đoạn, thì giai đoạn tuổi già thích yên tĩnh, sống chậm để thụ hưởng thành quả của gian đoạn trung niên làm ra, thưởng thức cái tinh túy của đất trời, sản phẩm văn hóa mà thời kỳ trước đó chưa có điều kiện thụ hưởng.
Do đó tôi không bi quan khi nhìn thấy lớp trẻ hiện đại trong giai đoạn sông động nhất họ đã tạm gác sang bên các loại thưởng thức sâu lắng của phần "thi" mà chỉ quan tâm phần "ca" của nền thi ca Việt Nam. Tôi tin khi đã “đứng tuổi” mọi tranh chấp sôi động cuộc sống đã tạm xong, sự nghiệp kinh tế chính trị đã an bài, khi đó người ta sẽ trở lại tìm về cái giá trị của thi ca, một loại hình văn nghệ độc đáo sâu sắc giàu tính nhân văn và chất thẩm mỹ cao mà các thi nhân đã lao tâm khổ tứ sáng tạo ra để lại cho đời.
Cảm ơn nhà phê bình Võ Tấn Cường đã cho xuất bản tập tiểu luận phê bình có chất lượng tốt, tôi tin những ai đã giành thì giờ (nếu chưa đọc thì hãy giành thì giờ) đọc tác phẩm này sẽ đồng quan điểm với tôi là “Nhà thơ và cuộc lưu đầy xứ mộng” là một tác phẩm hay rất đáng đọc và rất cần phổ biến trong lúc này, khi mà thơ và cái mà người ta gọi là thơ đang được phổ biến tràn lan rồi một số người cùng nhau gật ngù, tán thưởng, tâng bốc nhau làm cho không ít nhà thơ chân chính chạnh lòng.
Tháng 7/2011
T.Đ.L
Thời gian
votancuong | 01 August, 2011 13:33
Tôi đánh rơi chiếc đồng hồ kỷ niệm
Kim ngắn kim dài mệt nhoài cuộc rượt đuổi vô tận
Lấp lóa hình đôi tay giang rộng
Ôm khoảng trống
Ôm nhớ thương
Ôm ảo ảnh…
Tôi nhặt chiếc đồng hồ kỷ niệm
Giọt giọt thời gian
Lọt kẽ tay
Đọng lấp lánh giọt tiếc nuối
Âm thầm.
Tháng 07-2011
V.T.C
Hạc giấy ngày tháng sáu
votancuong | 17 July, 2011 10:55
Tờ lịch rũ tàn ngày tháng sáu
Thiêm thiếp bốn mươi bảy con hạc giấy
Ngọ nguậy đáy lọ lạnh giá
Mơ cất đôi cánh trắng
Bay
Bay…
Những con hạc giấy ủ ấm bàn tay
Những con hạc giấy nóng hổi nụ hôn giấc mơ ban ngày
Bay ngợp bầu trời thủy tinh
Lung linh sáng nỗi cô đơn căn phòng tối.
Mỹ Tho, tháng 07-2011
V.T.C
Cảm nhận của Nguyễn Đào về: "Nhà thơ và cuộc lưu đày xứ mộng"
votancuong | 14 July, 2011 09:34
Tập tiểu luận phê bình: “Nhà thơ và cuộc lưu đày xứ mộng” của Võ Tấn Cường do Nhà xuất bản Văn hóa Văn nghệ ấn hành tháng 07-2011 gồm II phần. Phần I: tiểu luận gồm: các bài viết về đặc trưng của thi ca, cơ chế sáng tạo của nhà thơ, thi ca thời vi tính và lòng tin của con người, đối thoại và phê bình thi ca, phê bình thơ và con đường cô độc… Phần II: phê bình gồm: các bài viết về phong cách thơ của các nhà thơ: Chế Lan Viên, Bích Khê, Lê Đạt, Bùi Giáng, Vũ Phán, Lê Ái Siêm, Nguyễn Khắc Thạch, Trương Nam Hương, Trần Đỗ Liêm, Nguyễn Thạnh, Vũ Thanh Hoa, Thái Hồng, Trần Hoàng Vũ Nguyên, Vương Huy.
Xin giới thiệu bài cảm nhận của tác giả Nguyễn Đào về tác phẩm: “Nhà thơ và cuộc lưu đày xứ mộng”
Nhà thơ và cuộc lưu đày xứ mộng dường như làm cho nhịp điệu cuộc sống vốn vồn vã trôi đi chậm hơn. Bỏ qua hết những lo toan, chật vật, bỏ qua hết những suy tính nhọc nhằn, tâm hồn con người trở nên thanh thản và thoải mái với cái bản chất vốn có của nó.
“Lưu đày” – một từ nghe qua có lẽ rất nặng nề, mang đầy chất bi thương. Và trong cuộc sống thông thường, trong suy nghĩ của con người thì lưu đày chỉ dành cho những tội nhân. Thế nhưng những “tội nhân” ở đây lại là chính là những nhà thơ, một điều rất lạ đúng không? Và cũng có một điều đặc biệt nữa, cuộc lưu đày này lại mang những “tội nhân” vào xứ mộng, xứ sở của những thái cực cuộc sống: vui vẻ, hạnh phúc hay đau khổ, bất hạnh... Tất cả những cung bậc tình cảm con người đều được thể hiện đầy đủ trong xứ mộng. Chính nhà thơ đã tạo ra cho mình xứ sở đó và cũng chính nhà thơ đã tự nguyện đưa mình vào thế bị lưu đày. Lưu đày để đưa những miền ký ức của mình hiện hữu trên trang giấy, “sinh ra” những đứa con tinh thần – kết tinh của những khoảng khắc “lưu đày”.
“Người ta có thể đếm được xác phù du gục chết dưới chân đèn sau khi lao vào xứ sở ánh sáng nhưng lại chẳng biết được có bao nhiêu nhà thơ giữa cuộc lưu đày vào xứ mộng đã vĩnh viễn mang theo xuống mồ nỗi hoài mộng về cái đẹp và nỗi khát khao hòa điệu với cuộc sống”. Tại sao phù du lại lao vào cái chết? Và tại sao nhà thơ lại bắt mình phải lưu đày? Câu hỏi này không quá khó để trả lời nhưng để tìm đuợc một câu trả lời chính xác nhất thì không phải dễ. Phải chăng vì cuộc sống đích thực mà nhà thơ chọn cho mình phải là như thế. Nỗi day dứt khôn nguồi về cái đẹp, nỗi khát khao hòa điệu với cuộc sống bắt nhà thơ phải luôn bị “lưu đày” trong từng khoảnh khắc và trong suốt cuộc đời mình.
“Giấc mộng là một nửa cuộc đời của một con người nhưng lại là cả cuộc đời của nhà thơ”. Chắc hẳn rằng ai cũng đã từng có những giấc mộng cả vui, cả buồn, cả thấy mình ở thế giới hiện thực hoặc bắt gặp mình ở một thế giới xa xăm nào đó mà chính mình cũng không biết. Thế nhưng những giấc mộng đó tỉnh ra thì cũng hết, chẳng còn đọng lại trong ký ức. Còn đối với nhà thơ thì nó cứ âm ỉ, réo gọi nhà thơ đi triền miên vào nó. Để nhà thơ thật sự hiện hữu trong giấc mộng đó, sống trong nó và cảm thụ nó. Chính vào điều đó nhà thơ đã trở thành cầu nối đưa người đọc vào thế giới của ảo mộng, nơi mà ở đó họ tìm được sự thanh thản đúng với bản chất ban đầu.
Tuổi thơ đi hoang bỏ cánh rừng trơ trọi
Lưỡi lửa vô tình liếm trụi màu xanh
Cái chết tiều phu vùi nấm mồ mây trắng
Tiếng nấc cành khô chồi biếc lìa đời
Tôi gọi xanh âm âm lòng đất
Mũi kiếm chồi non đâm tê buốt trời xanh
Tiếng gọi xanh nhoi nhói miền ký ức
Kẽ nứt lòng tay
Sương vỡ giọt mát lành
(Gọi Xanh – Võ Tấn Cường)
Lần đầu đến với “Nhà thơ và cuộc lưu đày xứ mộng” của Võ Tấn Cường, tôi thấy ngôn từ rất lạ, rất khó hiểu. Chính điều đó đã khiến tôi phải thay đổi cách tiếp nhận của mình. Từ khó hiểu một khi đã chuyển sang cảm thụ được thì có rất nhiều điều thú vị. Với những tác phẩm của Võ Tấn Cường, không chỉ đọc, nghĩ mà còn phải ngẫm, để không chỉ hiểu mà còn phải cảm với nhà thơ mới có thể chuyển tải hết những điều mà nhà thơ muốn gửi gắm.
Nguyễn Đào
Chùm thơ: Hôn phối bay - V.T.C
votancuong | 27 May, 2011 07:33
"Tôi muốn dùng ngôn ngữ sục sâu vào hố thẳm bản năng để tìm bóng dáng của cái đẹp để những cái-kén-bản-năng thoát thai thành những cánh bướm sặc sỡ. Tôi muốn đem đến cho bạn đọc những câu thơ đầy dục tính của niềm khát khao trong sâu thẳm bản ngã con người để bạn đọc chiêm nghiệm và soi rọi vào bản ngã chính mình…” (V.T.C)
Hôn phối bay
Hôn phối bay
Xác ong rơi rơi miền chết
Em - ong Chúa lả lơi cõi thơ anh
Xòe cánh quyến rũ con chữ
Lưng ong mê mệt con mắt
Hôn phối bài thơ
Giãy chết hồn anh.
Ấy… ấy…
Tôi ngủ nhờ căn nhà lá ven sông mùa lũ
Nửa đêm tiếng người đàn ông thì thầm:
“Ấy… cho… ấy… ấy… cái đi…”
Tiếng cá lóc quẫy bùn lầy
Tiếng môi trẻ mút bong bóng vỡ
Tiếng chuột nhắt lục tìm chảo mỡ
Trăng khỏa thân đáy nước
Lũ cá đực suồng sã chị Hằng
Ấy… ấy…
Ú… ớ…
A… a…
Hoài niệm đêm tân hôn
Đêm tân hôn
Chỉ xỏ trôn kim tơ nõn lụa trắng
Ngựa bạch phi úp mặt bóng trăng
Cối trả nợ chày nhịp giã hăng hăng
Núi trả nợ khe hừng hực nham thạch
Anh rót cô đơn tràn nụ hôn mải miết
Em uống yêu thương khô cạn suối nguồn
Sáng trơ ánh ngày
Đá tảng cô đơn đè lồng ngực
Hai khối tình lăn vào nhau
Tan vỡ.
V.T.C
Thánh ca của nước
votancuong | 21 April, 2011 09:48
Anh và em
Dạt trôi miền nhân ảnh
Nhuốm bụi trần lem luốc
Lạc tràn trề nước…
Nước vuốt ve cuống rốn ấu thơ
Nước gột rửa đôi mắt ráo hoảnh niềm nhân thế
Nước chan hòa thân thể trần trụi ngân khúc hoan ca
Nước mê man thỏa cơn khát núi rừng nguyên sinh…
Adam và Eva
Tan hòa thánh ca của nước.
Tháng 04-2011
V.T.C




Trackbacks (0) |

















