Con mắt nhìn tôi

By Võ Tấn Cường




 

Một ngày cuối tuần trời mưa rả rích tôi ngồi trò chuyện cùng anh bạn thân tại quán cà phê của thị xã nhỏ yên tĩnh. Tôi nhâm nhi cà phê và chia sẻ cùng anh bạn nỗi buồn về căn bệnh ung thư mà mẹ anh đang phải chịu đựng. Ngồi ngẫm nghĩ tôi chợt nhận ra rằng tôi đã sống hơn nửa đời mới biết nghĩ về mẹ và biết thương mẹ.

Tôi trở về bên mẹ bất ngờ như cơn gió. Mẹ vẫn ngồi bên cửa sổ chải tóc. Mái tóc thanh xuân thuở nào đã bạc trắng lơ phơ thiêm thiếp ngủ trên mái đầu. Tôi lặng im ngồi bên mẹ và ngắm nhìn mẹ. Tôi chợt nhận ra niềm hạnh phúc giản dị chính là được nhìn mẹ nghe mẹ nói và cảm thấy mẹ vẫn bình yên khoẻ mạnh. Tôi chợt giật mình khi nhận ra chiếc áo len bạc màu mẹ mặc đã hai mươi năm. Trên ngực áo một lỗ thủng như con mắt tròn xoe nhìn tôi đăm đắm. Tôi chợt quay mặt giấu giọt nước mắt rưng rưng....

Tôi nhớ một thiền sư từng nói: "Mỗi người đều có con mắt thứ ba gọi là tuệ nhãn. Con mắt thứ ba nhìn xuyên thấu vào bản ngã và hướng về bản chất của sự vật...". Thuở hai mươi tôi chỉ nhìn vào chính tôi hướng về thẳm sâu con người bé nhỏ của mình. Bây giờ con mắt trên ngực áo mẹ nhìn tôi cái nhìn thấu suốt...Con mắt trên ngực áo mẹ đã khiến tâm hồn tôi....thức tỉnh.

V.T.C

More...

Truyện ngắn: Bữa tiệc của bầy chuột- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường



 


H
ai sứt trả công cho bài báo tôi viết về công ty mai táng của gã bằng một bữa tiệc ở nhà hàng Thiên Hương nằm ở ngoại ô thành phố. Tôi gã và hai cô gái xa lạ mũm mĩm chìm đắm trong men bia và những cảm giác hấp dẫn của trần thế. Hai Sứt mặt đỏ gay giơ bàn tay to bè múc óc khỉ và bảo: "Bọn trí thức của các cậu chỉ là đám khỉ gió. Không hơn gì con khỉ này. Ngoài bộ óc ra còn lại là bỏ đi tất. Vứt sọt rác chó cũng chẳng thèm gặm. Bộ óc này tớ chỉ múc ba muỗng là hết sạch...". Tôi tái mặt nhưng vẫn nhỏ nhẹ: "Không có bài báo của tớ ca ngợi sự liên doanh giữa nhà xác bệnh viện và công ty mai táng của cậu có lẽ cậu đã sập tiệm lâu rồi. Sao? Cậu đã thấy giá trị của một tí ti chất xám chưa?". Hai Sứt cười sằng sặc vết sẹo trên môi gã khẽ giật khiến bộ râu rung lên trông như con đỉa trâu đang quằn quại. Gã bảo: "Dù sao bài báo của cậu cũng đã làm xong sứ mệnh của nó và nó trở thành đồ nghĩa địa rồi. Nhưng nói tới chất xám làm quái gì. Như tớ đây này tớ chỉ học tới lớp sáu thôi nhưng tớ vẫn điều khiển được bộ não trí thức các cậu...Tất nhiên tớ dùng tiền để mua tri thức....Nhưng xin lỗi....Thời kinh tế hàng hóa mà. Cái gì cũng có giá của nó...". Tôi giả đò phớt lờ lơ đãng phả khói thuốc vào gương mặt non tơ của cô gái ngồi bên cạnh. Cô gái đẫy đà ngồi bên Hai Sứt ngúng nguẩy: "Anh Hai ơi ! Nói chuyện gì vui đi. Anh nói chuyện gì đâu trên trời em chẳng hiểu gì ráo trọi. Anh không chịu nói chuyện với em là em đi chỗ khác à...". Cô gái ngả ngớn choàng tay qua vai gã cái miệng trông tái lạnh chúm lại áp sát miệng gã như con chim mẹ đang mớm mồi cho con. Dòng nước nhờn nhợt trào ra hai bên mép chảy dài xuống cái cổ trắng ngần thon thả...

Tôi biết Hai Sứt đang sục sạo săn tìm cảm giác nhục dục để lấp đầy sự trống rỗng của tâm hồn để xua đi nỗi nhục của một gã đàn ông bị vợ bỏ rơi. Hai năm trước đây Hai Sứt còn trắng tay gã chỉ là thành viên đội mai táng của phường. Vợ gã vốn thích chưng diện đua đòi và không chịu nổi cảnh sống nghèo hèn nên đã lẳng lặng cuốn gói bỏ nhà đi dắt theo đứa con gái năm tuổi. Ngày ấy tôi vừa tốt nghiệp khoa ngữ văn thất nghiệp và trong một lần đi lang thang tôi đã gặp và làm quen với Hai Sứt. Tôi đã kết bạn và về chung sống với gã trong căn nhà ổ chuột ẩm thấp và tăm tối. Tôi tập tành viết báo và xin vào làm phóng viên một tờ báo tỉnh lẻ. Vào ngày nọ Hai Sứt nói với tôi rằng gã sẽ bán nhà lấy tiền góp vốn giúp đội mai táng của phường mua thêm xe tang lập công ty mai táng. Gã rêu rao rằng sẽ làm việc thiện công ty mai táng của gã sẽ liên kết với nhà xác ở các bệnh viện trong và ngoài thành phố để tẩm liệm chôn cất cho người chết kể cả những cái xác vô chủ. Là một phóng viên mới vào nghề con non nớt nhưng lại thừa hăm hở và xông xáo tôi đã viết một bài báo ca ngợi công ty mai táng của Hai Sứt. Sau này khi tôi phát hiện ra những phi vụ làm ăn của Hai Sứt thì đã muộn. Hai Sứt đã mượn danh nghĩa hoạt động của công ty mai táng và đã dùng xe tang để làm điều phi pháp chở hàng quốc cấm... Nỗi sợ bị mọi người biết được sự vấy bẩn của ngòi bút và nhất là nỗi ám ảnh bị thất nghiệp đã xui khiến tôi sống trong sự im lặng hèn nhát...

Tôi đang chìm đắm trong dòng suy tưởng thì chợt một giọng nói õng ẹo vẳng bên tai: "Anh ba ơi ! Anh nghĩ gì mà ngồi thừ cả người ra như Phật vậy? Cụng với em một cái đi ! Buồn gì mà hiền khô vậy? Không giống nhà hàng xóm bên kia chút nào hết trọi...". Tôi nâng ly bia cụng với cô gái và nốc cạn. Tôi muốn uống để quên mọi thứ uống để tê liệt cả tâm trí để được chìm sâu vào cõi mơ hồ của quên lãng. Đầu óc tôi vẫn tỉnh táo chỉ có bàn chân trái hơi tê như bị ngàn mũi kim đâm vào da thịt. Bỗng một con chuột cống to đùng chẳng hiểu chui từ đâu ra chạy đâm sầm vào chân tôi và lủi mất ở phía sau nhà. Tôi cảm thấy lợm giọng và nặng trịch phía dưới bụng. Tôi đứng dậy và chậm rãi bước về phía bóng tối ở sau nhà. Trời đã khuya. Gió đêm thổi vào ngực tôi cái lạnh tê buốt. Sao trời dày đặc hắt những đốm sáng xuống đáy con mương cạnh hiên nhà trông như những đốm lân tinh ma quái đang dật dờ dưới thủy cung...Tôi đã tống khứ được thứ chất lỏng chết tiệt ra khỏi người nên cảm thấy nhẹ nhõm thư thái. Tôi đang định bước vào nhà thì chợt sững người trước một bàn thờ đóng bằng mảnh ván nhỏ đặt ở bên trái hiên nhà. Nén nhang cháy leo lét hắt vệt sáng lờ mờ xuống mặt đất. Một con chuột cống đang nép cạnh chân bàn thờ gương những sợi râu như những cần ăng-ten bé xíu để thăm dò thái độ của một lẻ thù xa lạ. Trí não tôi tê dại trong một khoảnh khắc. Cái lạnh chạy dọc sống lưng làm tôi chợt rùng mình. Tôi tự hỏi:" Chẳng lẽ loài chuột đang chạy trốn và ẩn náu trước kẻ thù là tôi hay đang canh giữ chốn linh thiêng là cõi đi về của một linh hồn?". Tôi chợt hoảng sợ vì đã làm xú uế cõi trú ngụ của một linh hồn. Tôi hấp tấp trở về bàn vuốt má cô gái và hỏi: "Nhà hàng này sao nhiều chuột qúa vậy em? Ghê qúa ! Lại đặt bàn thờ gần chỗ tiểu tiện nữa. Tội chết à !". Cô gái cắn hạt dưa lép bép trông như con chuột nhắt đang cắn lúa. Cô gái tỉnh bơ đáp: "Tại có mèo nên có chuột. Em là mèo anh là chuột. Anh "bo" em đi không mèo ăn thịt chuột à". Cô gái cười ngặt nghẽo. Tôi hỏi: "Bàn thờ ai vậy?". Vừa tách hạt dưa cô gái vừa nói: "Con nhỏ con của chị Hà". Tôi hỏi: "Nó tên gì". Cô gái nói: "Tên Hương". Tôi sửng sốt: " Sao chết vậy?". Cô gái lạnh lùng đáp: "Mẹ nó lo ôm khách để con nhỏ té mương...Không hiểu do nó mải chơi bị đâm đầu xuống mương hay do nó trông thấy mẹ mình ôm ấp người đàn ông không phải ba nó...". Tôi tê điếng người líu cả lưỡi: "Mẹ nó...đâu rồi?". Cô gái ngậm ngùi: "Chôn nó ở mảnh vườn phía sau...Bỏ đi rồi...". Hai Sứt chợt thét lên một tiếng như con thú vừa bị thương. Gã xô cô gái mà gã vừa ôm ấp ngã sấp xuống mặt bàn. Gã vùng chạy về phía sau nhà. Tôi lẽo đẽo đi theo sau gã như một con chó xem chủ mình định làm điều gì. Hai Sứt qùi xuống đất trông như một kẻ bị bại liệt đang vái lạy quầng sáng leo lét giữa bóng đêm để cầu xin sự bố thí. Tôi bước lại gần và nâng gã đứng dậy. Hai chiếc bóng ngả nghiêng như hai oan hồn đi vất vưởng trên mặt đất đầy bóng tối...

Ngày hôm sau Hai Sứt bỏ đi đâu mất biệt. Gã chỉ để lại trên bàn tờ giấy nhàu nát ghi mấy dòng chữ ngắn ngủi: "Tôi đi... Đừng đi tìm vô ích... Hãy tha thứ cho việc làm của tôi..."
Ba tháng sau. Một người bạn cho tôi biết vừa gặp Hai Sứt ở bệnh viện Tâm thần. Tôi vội phóng xe đi tìm gã. Cô bác sĩ trực chỉ cho tôi thấy một nấm mồ nhỏ vừa mới đắp cạnh gốc dừa ở gần cổng và bảo: "Có một anh chàng không biết tên tuổi vừa nhập viện nhưng bỏ trốn rồi. Mấy ngày qua anh ta cứ tha thẩn đào bới đất đắp thành nấm mồ. Anh ta xin nhang để đốt nhưng bệnh viện thì làm gì có nhang.... Thế là anh ta bỏ trốn...".

Tôi nhổ một cọng cỏ may cắm lên nấm mồ. Tôi đứng lặng nhớ lại hình ảnh chiếc bàn thờ bằng ván gỗ đơn sơ của con Hai Sứt. Không hiểu gã có tìm được nấm mồ vô tội của con mình hay không? Trước mắt tôi nấm mồ nhỏ trông nhạt nhòa ẩn hiện. Chẳng biết nấm mồ này có phải Hai Sứt đắp hay không? Tôi tự hỏi nếu anh thanh niên tâm thần kia là Hai Sứt thì không hiểu gã đắp mồ cho đứa con thân yêu vô tội hay cho chính mình?

More...

Truyện ngắn: Xanh vỏ đỏ lòng- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường



Ảnh minh họa

 

Tôi trở về ấp Xóm Giá vào thời điểm nông dân đang thu hoạch mùa dưa hấu. Tôi nhớ ngày tôi ra đi giữa buổi chiều có một người đứng ở đầu xóm ngóng mãi cho đến khi bóng tôi mất hút ở phía bến xe thị trấn.
Dù không ngoái lại nhìn nhưng tôi vẫn hình dung chị Hương mặc chiếc áo màu tím với mái tóc lòa xòa ngang vai đứng lặng dưới bóng hoàng hôn. Những ngày xa quê tôi thường nhớ về hình ảnh của chị Hương như nỗi hoài niệm vừa thi vị vừa da diết. Tôi chậm rãi bước hướng mắt ngắm nhìn những ruộng dưa cạnh đường tỉnh lộ với những trái dưa xanh láng no tròn. Tôi nhìn thấy chị Hương vừa từ chòi canh dưa bước ra con đường đá đỏ. Chị vẫn mặc chiếc áo tím quen thuộc nhưng mái tóc thì đã cắt ngắn. Tôi rảo bước và hướng mắt về phía chị Hương. Chị đã nhận ra tôi. Chị tất tả đi như chạy giọng chị như lạc hẳn đi:
- Em đã về. Chị biết thế nào em cũng về. Chị chờ mãi ngày hôm nay...
Tôi đáp nhỏ nhẹ:
- Em cũng mong gặp chị... Sức khoẻ của má chị thế nào rồi?
Tôi nhận ra bờ môi của chị Hương mấp máy vì xúc động. Tôi hiểu chị định nói với tôi điều gì nhưng lại ngại ngùng không nói nên lời. Chị Hương quay đi như muốn giấu gương mặt vào lòng chiếc nón lá. Chị Hương cất giọng nghèn nghẹn:
- Má chị vẫn khi tỉnh khi mê. Chị cám ơn em đã lo cho má chị. Chị mắc nợ em nhiều lắm. Không biết bao giờ chị mới trả nổi....
Tôi đáp:
- Chị đừng nói vậy. Chị em mình đã sống cùng nhau với biết bao nhiêu kỷ niệm...
Chị Hương im lặng đôi mắt chị rươm rướm nước:
- Em có gặp anh ấy không?
- Chị hãy quên anh ấy đi... Em đã tìm đến phòng tranh của anh ấy. Em thấy anh ấy bán được mấy bức tranh vẽ về chị và những trái dưa cho mấy người Việt kiều...
- Chị cũng muốn quên nhưng không thể quên. Anh ấy sống thế nào? Anh ấy còn nhớ chị không em?
- Chị quên anh ấy đi. Anh ấy có đam mê đeo đuổi cái đẹp. Chị chỉ là người mẫu của anh ấy thôi...
- Không... Anh ấy nói yêu chị mà... Chắc chị phải đi tìm anh ấy...
- Nếu anh ấy còn yêu chị thì anh ấy phải về thăm chị chứ. Anh ấy đã gặp những người mẫu khác.
- Không. Chắc chị phải gặp anh ấy một lần...
- Không được... Chị bỏ đi thì ai chăm sóc má và con chị...
Chị Hương cúi đầu chậm rãi bước. Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn mềm mại của chị Hương và cất giọng nhỏ nhẹ:
- Em sẽ về sống ở xóm mình. Em sẽ sống bên chị....
Tôi sánh bước cùng chị Hương về phía chòi giữ dưa. Tôi chợt nhận ra mình đã chạm vào vết thương tinh thần của chị Hương. Không nhìn chị nhưng tôi vẫn cảm nhận được những giọt nước mắt chị đang chảy xuống gò má sạm nắng....
Nhà tôi ở cạnh nhà chị Hương. Chị Hương sống cùng má trong căn nhà lá nhỏ gần ruộng dưa. Người dân ấp Xóm Giá đồn đãi rằng xưa kia ông ngoại của chị Hương làm điều ác nên bị một lời nguyền rằng ba đời con cháu của ông sẽ bị bệnh tâm thần. Không hiểu lời nguyền linh thiêng thế nào mà khi má chị vừa trở thành thiếu nữ thì phát bệnh tâm thần. Ông ngoại dẫn má chị đi khắp nơi chữa trị nhưng bệnh không thuyên giảm. Chị Hương ra đời như sự trớ trêu của định mệnh. Má chị không hề nói cho chị biết ba chị là ai. Má chị được ông ngoại cất cho căn nhà cạnh ruộng dưa. Hai má con của chị Hương sống trong căn nhà lạnh lẽo và cắn răng chịu sự ghẻ lạnh của xóm làng. Chị Hương có gương mặt phúc hậu với vẻ đẹp dịu dàng và đằm thắm. Thuở nhỏ vào mùa dưa hấu những ngày nghỉ học tôi thường ghé ruộng dưa nhà chị Hương. Chị hái dưa và bổ cho tôi ăn. Ruột dưa đỏ thắm và ngọt ngào trông giống như màu môi của chị Hương. Chị Hương không bao giờ trang điểm nhưng tôi thấy chị đẹp lạ lùng. Chị Hương bảo: "Em hãy nhìn kỹ trái dưa. Vỏ nó thì xanh nhưng ruột thì lại đỏ thắm và ngọt ngào... Nhiều người chỉ nhìn vào bề ngoài để đánh giá bản chất của người khác là không đúng... Má chị coi vậy chứ hiền lắm. Bà thường lên cơn vào những đêm trăng. Nhiều đêm bà cứ tha thẩn khắp ruộng dưa và nghêu ngao hát hết bài này đến bài khác...".
Những đêm trăng sáng chị Hương thường kể chuyện cổ tích cho tôi nghe. Có đêm tôi cùng chị ngủ tại chòi giữ dưa. Chị Hương hát cho tôi nghe những điệu lý và những bài ca cổ. Tôi chỉ hiểu lờ mờ về nội dung của những bài ca nhưng giọng ca của chị Hương thì thật ngọt ngào ru tôi vào giấc ngủ. Nửa đêm tôi choàng tỉnh giấc. Ánh trăng mờ ảo hắt qua mái lá rải những hạt vàng khắp căn chòi giữ dưa. Chị Hương nằm nép sát bên tôi. Hình như chị đang chìm đắm trong giấc mơ. Tôi nhận ra lồng ngực nóng hổi của chị áp sát vào lưng tôi. Chị choàng tay ôm tôi vào lòng. Tôi cảm nhận được hơi thở nóng hổi của chị phả vào má tôi. Chị Hương đang thì thầm điều gì đó trong mơ. Giọng chị xa vắng: "Anh... yêu em đi...". Sáng hôm sau tôi ngại không dám kể cho chị Hương nghe về lời nói của chị giữa giấc mơ. Tôi phát hiện điều thú vị của hơi thở và giọng nói trong mơ của chị thấm sâu vào từng thớ thịt của tôi như hương vị ngọt ngào mát lạnh của miếng dưa hấu....
Khi tôi mười tám tuổi thì chị Hương đã gần ba mươi. Chị vẫn đẹp rực rỡ nhưng vẫn cô đơn sống cùng với má trong căn nhà trống hoác lạnh lẽo. Những thanh niên và đàn ông ở ấp Xóm Giá chỉ đứng ở xa chiêm ngưỡng chị. Không có ai dám yêu chị và dám hỏi chị làm vợ. Có lẽ người ta sợ lời nguyền sẽ trở thành sự thật sợ chị sẽ phát bệnh tâm thần giống má hoặc sinh ra đứa con tâm thần. Một ngày nọ xuất hiện một thanh niên dáng nghệ sĩ với gương mặt rắn rỏi. Anh ta xách giá vẽ đi khắp xóm vẽ phong cảnh. Chàng họa sĩ tình cờ gặp chị Hương đang hái dưa. Không hiểu anh ta đã thuyết phục thế nào mà chị Hương đồng ý làm mẫu cho anh ta vẽ. Những bức tranh anh họa sĩ vẽ chị Hương với đủ mọi tư thế bên những trái dưa lần lượt ra đời. Đêm nọ tôi ghé thăm chòi giữ dưa của chị Hương. Căn chòi im ắng không thấy bóng chị Hương đâu cả. Tôi chợt nghe tiếng người thì thầm phía sau chòi:
- Mai anh phải về thành phố...
- Chắc rồi anh sẽ quên em...
- Anh không thể nào quên em đâu...
- Anh... Lỡ em có thai...thì sao?
- Em hãy nuôi con... Rồi anh sẽ trở lại xin cưới em...
- Em yêu anh... Em sẽ đợi anh...
Tôi đứng lặng trái tim tôi đau nhói. Tôi lờ mờ linh cảm điều gì không hay sẽ đến với chị Hương. Tôi bỗng sợ mất chị Hương. Chị sẽ theo anh họa sĩ ra đi bỏ lại mẹ già ruộng dưa và những kỷ niệm thời thiếu nữ. Tôi ngồi bệt xuống ruộng dưa những ngón tay bấu vào trái dưa như muốn bóp nát. Thế nhưng điều đó không xảy ra. Chị Hương vẫn sống thầm lặng và chờ đợi một người...
Hơn chín tháng sau chị Hương sinh một bé trai bụ bẫm. Hàng xóm nhiều người bảo thằng bé giống tôi. Má tôi bảo: "Người ta bảo thằng nhỏ con của con Hương trông giống mày. Tao thấy mày lẹo tẹo với con Hương. Mày có làm gì bậy không con? Dính vào nó là tàn đời đó nghen con?...". Tôi ậm ừ: "Không có chuyện gì đâu má. Má tin con đi. Con xem chị Hương như chị gái...".
Tôi thường ghé nhà thăm chị Hương. Tôi xót xa khi nhìn vẻ mặt xanh xao héo hắt của chị. Niềm vui duy nhất của chị Hương bây giờ là nuôi nấng chăm sóc con. Nhìn chị nựng nịu vui đùa cùng đứa bé tôi cảm thấy một nỗi ghen tuông len lỏi trong tâm hồn tôi. Tôi ghen với anh chàng họa sĩ đã chiếm trọn tình yêu của chị Hương. Tôi ghen cả với thằng bé...
Ngày nọ sau một hồi trò chuyện chị Hương hỏi:
- Em đến thăm chị như thế này có ngại không?
- Chị nói ngại chuyện gi? Có gì đâu mà ngại...
Chị Hương mỉm cười nói:
- Có người nói thằng bé giống em. Em thấy thế nào?
Tôi ngượng ngùng đáp:
- Em không biết. Giống em cũng tốt chứ có gì đâu... Chị à... Phải chi chị cho em một... đứa con...
Tôi biết mình lỡ lời nhưng lời nói không lấy lại được. Tôi đứng lặng hai tay lóng ngóng chẳng biết làm gì. Chị Hương nhìn sâu vào mắt tôi và cười:
- Em nói gì vậy? Em còn trẻ mà. Có nhiều cô gái trẻ đẹp xứng với em... Chị không xứng đáng với em đâu... Tương lai em vẫn còn phía trước. Chị nghe nói em sẽ thi đại học?
- Dạ. Em muốn đi thi nhưng lại không muốn xa chị...
- Em cần phải đi học. Chị mong đời em sẽ tốt đẹp. Sẽ có người con gái xinh đẹp yêu em chân thành...
Ba tháng sau tôi thi đậu đại học và lên sống ở thành phố. Chị Hương trao cho tôi mảnh giấy ghi địa chỉ phòng tranh của anh họa sĩ. Mấy lần ghé phòng tranh tôi biết được một điều anh họa sĩ đã quên chị Hương. Anh ta chỉ nhắc đến những bức tranh vẽ chị Hương. Dưới mắt anh họa sĩ chị Hương chỉ là người con gái đồng nội thoáng qua cuộc đời. Tôi đã không đủ can đảm để nói điều này với chị Hương. Tôi nói dối rằng đã đi tìm mà vẫn chưa gặp anh họa sĩ. Đến hôm nay ngày trở về ấp Xóm Giá tôi quyết định nói sự thật với chị Huơng.
Chị Hương dẫn tôi ghé thăm chòi giữ dưa. Những trái dưa xanh láng nằm rải rác khắp ruộng trông thật đẹp. Tôi bước lại gần nắm bàn tay nhỏ nhắn của chị Hương và nói:
- Mình bổ dưa hấu ăn nghen chị...
Chị Hương cười:
- Em có nghĩ như mọi người hay không? Người ta nói: "Xanh vỏ đỏ lòng"... Nhiều người trông bề ngoài tử tế nhưng ruột gan thì...".
Tôi mỉm cười:
- Em thích màu đỏ của ruột dưa. Em muốn cùng chị trồng những mùa dưa mới... Em chấp nhận "xanh vỏ đỏ lòng..."
Chị Hương mỉm cười. Làn môi chị đỏ thắm như ruột dưa. Tôi muốn hôn đôi môi chị để cảm nhận hương vị ngọt ngào và cay đắng của tháng ngày chờ đợi
.

More...

Tạp văn: Tờ lịch ngày cuối năm- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường




 

Buổi sáng ngày cuối năm gỡ tờ lịch cuối cùng tôi chợt bâng khuâng nhớ về những ngày tháng đã qua. Những tờ lịch như những cánh thời gian rụng rơi mang theo bao khát vọng tuổi xuân và bao buồn vui cuộc đời mỗi con người.


Tôi nhớ trước đây vào những ngày đáng nhớ ba tôi thường gỡ tờ lịch dán vào cuốn sổ và ghi lên đó những câu văn ngắn như: Ngày C vào đại học ngày đám cưới C ngày sinh của cháu nội M... Những tờ lịch chỉ là những con số ngày tháng vô tri đã trở nên thân thiết gợi nhớ về những kỷ niệm. Thỉnh thoảng mở cuốn sổ tôi lại nhớ gương mặt đăm chiêu của ba tôi đang gỡ từng tờ lịch và ghi vào đấy những "cột mốc" đáng nhớ trong cuộc đời của con cháu. Thế nhưng tôi không hề thấy tờ lịch nào ghi ngày sinh nhật của ba tôi cả. Trong tâm trí tôi chỉ nhớ năm sinh mà không hề biết ngày sinh nhật của ba...


Cầm tờ lịch ngày cuối năm tôi chợt tiếc nuối đã hoang phí những ngày tháng tươi đẹp thời tuổi trẻ. Công việc mưu sinh đã cuốn tôi vào vòng xoáy đến nỗi nhiều lúc tôi quên gỡ lịch quên cả thời gian và ít có những phút giây tự chiêm nghiệm về những ngày tháng đã qua. Tôi tự hỏi: bao nhiêu ngày đã trôi qua với sự thờ ơ trống vắng? Bao nhiều tờ lịch đã rụng rơi không để lại chút dấu ấn giữa cuộc đời?


Cầm tờ lịch ngày cuối năm trên tay tôi cảm nhận được sức nặng của thời gian và sự hội tụ của qúa khứ hiện tại và tương lai trên tờ lịch mỏng manh bé nhỏ. Tôi dặn lòng phải sống hết mình để mỗi ngày đều đáng nhớ và mỗi ngày đều có một điều gì đó để ghi lên tờ lịch. Mỗi ngày đến phải là một ngày mới lạ và là một ngày đáng sống.

More...

Tạp văn: Gương mặt của đồng quê- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường


 


Một ngày cuối tuần tôi trốn khỏi căn phòng máy lạnh và trốn khỏi khói bụi trên đường phố để trở về đồng quê tìm không khí trong lành và sự yên tĩnh giữa không gian thoáng đãng. Quê tôi-một làng quê nhỏ yên tĩnh của vủng đất sông Tiền thuộc đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Nơi đây là một trong những vùng lúa nổi tiếng của các tỉnh ĐBSCL. Những con sông chảy yên ả hiền hòa hòa cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt chảy qua những cánh đồng lúa bát ngát chính là nét đặc trưng của vùng đồng quê các tỉnh ĐBSCL. Gương mặt đồng quê quen thuộc với những người từng có tuổi thơ sống gắn bó với vùng đất nặng tình này nhưng lại xa lạ với những ai mang trong tâm hồn những ý nghĩ của một người khách tham quan chỉ biết ngắm nhìn chiêm ngưỡng cảnh vật.


Trở về vùng nông thôn ĐBSCL tôi nhận ra gương mặt đồng quê đang biến đổi từng ngày. Những tuyến đê bao chắn lũ được đắp cao đã trở thành đường giao thông nông thôn thuận tiện. Điện và nước sạch đã đến từng hộ dân. Nỗi ám ảnh về sự tàn phá của những cơn lũ chỉ còn trong ký ức của những người nông dân. Tôi nhớ thuở ấu thơ tôi từng đứng áp sát vách nhà để đo ngấn lũ màu vàng hằn trên vách. Cái màu vàng của ngấn lũ cứ ám ảnh giấc mơ tôi suốt thời tuổi trẻ. Bây giờ người dân quê tôi đã biết "sống chung" với lũ. Nhiều vùng đất đã trồng được ba vụ lúa một năm. Trẻ em đến trường đi trên những con lộ tráng xi măng phẳng lì không còn sợ sự hiểm nguy của dòng nước lũ rình rập. Cuộc sống ở vùng nông thôn thật yên ả và tươi đẹp...


Trong ký ức của tôi đồng quê vẫn hiện lên mang dáng vẻ nguyên sơ và tinh khiết. Hình tượng người nông dân và đời sống nông thôn là chiếc nôi sáng tạo cho văn nghệ sĩ trở thành nguồn chất liệu vô tận để các nhà văn nhà thơ khai thác thể hiện thành truyện ngắn tiểu thuyết thơ ca. Thế nhưng trong đời sống xã hội thì người nông dân luôn phải chịu nhiều sự thiệt thòi. Họ ít được hưởng thụ các tiện ích của xã hội. So với các hộ dân ở thành phố thì những hộ nông dân lại phải đóng các khoản lệ phí và các khoản thu nhiều hơn....Nhiều hộ nông dân cứ phải sống trong cái vòng luẩn quẩn của kiếp nghèo từ đời này sang đời khác.


Đời sống ở nông thôn dễ gợi ý tưởng về những mối quan hệ chân tình giàu tình nghĩa. Thế nhưng nhiều người lại nghĩ nông thôn là nơi có nhiều hủ tục lạc hậu và sự trì trệ về tư duy. Thời kinh tế thị truờng những xung đột về lợi ích kinh tế ở nông thôn thật khốc liệt. Thời chiến tranh quê tôi là vùng căn cứ cách mạng nên hứng chịu nhiều bom đạn tàn phá. Đau đớn thay hơn ba chục năm qua vết thương chiến tranh trên mảnh đất quê mới lành da thịt thì lại xảy ra cuộc chiến âm ỉ tranh chấp đất đai. Bây giờ mâu thuẫn về tranh chấp đất đai vẫn còn diễn ra trong từng hộ gia đình và giữa các hộ nông dân với nhau. Tình nghĩa cha con họ hàng làng xóm sứt mẻ thậm chí máu chảy cũng chỉ vì tranh chấp đất đai. Tranh chấp đất đai đang là vấn đề nóng và là một thực tế không thể quay mặt làm ngơ.

Có người bảo: "Bây giờ ở nông thôn đa số chỉ là người già và con nít...Nam thanh nữ tú lên thành phố học bỏ đi nơi khác kiếm sống. Nhiều cô gái thì lấy chồng Đài Loan Hàn Quốc để tìm cách đổi đời...Dân số nông thôn đang bị già hóa...". Qủa đúng như vậy. Lao động ở nông thôn đang bị chuyển dịch lên thành phố và các thị tứ. Lao động nông thôn đang bị...lão hóa. Gương mặt của đồng quê sẽ khó đổi thay nếu thiếu sức trẻ và sự nhiệt huyết của những con người biết sống hết mình cho một vùng đất mà mình gắn bó máu thịt.


Ở Việt Nam nông thôn là nơi người ta ra đi và trở về. Ra đi để thoát ly khỏi cuộc sống chân lấm tay bùn tìm cách để đổi đời. Trở về khi đã rũ bỏ mọi tham vọng ham muốn để tìm lại cuộc sống giản dị thanh bạch...Đồng quê nơi yêu nghỉ của tổ tiên trong những nấm mồ đơn sơ đã cất giữ bao điều thiêng liêng và bí ẩn. Trở về đồng quê cũng có nghĩa là trở về nguồn cội trở về nơi chôn nhau cắt rốn trở về với vẻ đẹp nguyên sơ tinh khiết.


Người Việt Nam phần đông đều có gốc gác từ nông dân. Bản chất của "anh nhà quê" vốn thật thà và chân chất. Thế nhưng không phải ai cũng giữ được những phẩm chất cao qúi này. Lối sống thành thị chất thị dân đã khiến nhiều người bỏ quên gốc gác và đánh rơi mất vẻ đẹp đáng yêu của sự hồn nhiên chân chất. Nhớ về gương mặt đồng quê tôi lại thấy hiện lên gương mặt phúc hậu và lam lũ của ông tôi bà tôi cha mẹ tôi và cả gương mặt của những người nông dân tôi không hề nhớ tên. Họ là những người quanh năm lầm lũi trên cánh đồng để làm nên những hạt lúa củ khoai. Họ đã nuôi tôi nên người để rồi khi đã học hành tử tế tôi lại lãng quên họ và rời bỏ đồng quê để đi tìm một cuộc sống ấm êm sung túc ở chốn thị thành. Đôi khi trong giấc mơ và trong những bài thơ viết về đồng quê tôi lại thấy mình trở lại nơi tôi đã ra đi để được sống lại những ngày thơ ấu. Thế nhưng sao tôi cứ cảm thấy mình như người khách lạ. Đồng quê đã thay đổi hay lòng tôi đã đổi thay? Tôi nhủ lòng sẽ trở lại để góp sức mình tạo nên một gương mặt đồng quê trẻ trung và tràn đầy sức sống.


Tháng 06-2009

More...

Truyện ngắn: Hư vô trắng- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường

 

 

Đêm trăng mùa lũ. Những nấm mộ loi ngoi giữa dòng nước đục ngầu. Ánh trăng lấp lóa phản chiếu trên mặt nước những vệt sáng lân tinh ma quái. Tôi áp tai vào mạn xuồng nghe tiếng nước chảy róc rách. Lũ nhấn chìm ngôi mộ ông ngoại tôi mới chôn ba ngày. Trăng mùa lũ buồn tế tái. Tôi chợt nghe văng vẳng giọng mình: ”Ông ngoại ơi! ở cõi âm ông có lạnh lắm không?“. Đâu đây nước róc rách: ”Lạnh lắm.”. Tôi giật mình choàng tỉnh. Trăng vẫn thản nhiên sáng vằng vặc và tròn vành vạnh. Trước mắt tôi giấc mơ trắng tan vỡ và chìm vào hư vô.

Má tôi ngồi trước hiên nhà chậm rãi đưa khăn rằn chấm nước mắt nói: ”Tội nghiệp ông ngoại con. Chết giữa mùa lũ coi như phải chết hai lần….”. Tôi ngẩn ngơ nhìn ngấn lũ trên bức tường loang lổ nói: ”Con thấy tội nghiệp cu Tý. Lũ về nó không còn chỗ để chơi…”

Giọng má tôi nghèn nghẹn: ”Vậy mà có người mong lũ về. Lũ về giăng lưới bắt cá”. Ba tôi đung đưa chiếc võng giăng trên cột nhà nói: ”Có kẻ còn mong lũ về để được nhận hàng cứu trợ. Thiệt là lạ. Dân miền Tây mình đâu có hèn như vậy….”. Tôi nhớ một lần trong tiệc nhậu thằng bạn tên Tâm là cộng tác viên một tờ báo bảo: ”Nè ! Cương ! Mày quê ở miền Tây mày có hiểu tại sao con gái miền Tây lên Sài Gòn bán bia ôm và làm gái nhiều qúa không vậy?”. Câu hỏi của Tâm khiến mặt tôi nóng bừng vì tức giận. Tôi nắm chặt tay định đấm vào bộ mặt bành bạnh của thằng láu cá. Tôi chợt nghĩ Tâm mời tôi ăn nhậu chẳng lẽ chỉ vì một câu nói mà đánh nó. Tôi nghĩ mình đúng là thằng hèn.

Ba tôi trầm tư hút thuốc và cất giọng trầm lắng: ”Lũ về bao nhiêu tiền của bị mất trắng. Người ta cứ hô hào chung sống với lũ mà không hiểu rõ là phải sống chung như thế nào. Chẳng lẽ chỉ có đắp đê bao ngăn nước mà gọi là sống chung với lũ?”. Ba tôi nói thầm như đang độc thoại. Lát sau ba tôi lại chuyển sang chuyện khác. Ba kể rằng cách đây hai mươi năm ba má đi chài cá giữa mùa lũ. Đêm ấy trăng hắt những quầng sáng nhợt nhạt xuống mặt nước. Lưới bị vướng vào khối gỗ lớn. Ba phóng xuống nước bơi lại để gỡ chợt điếng hồn khi nhận ra chiếc quan tài vàng chóe còn hăng hăng mùi gỗ. Ba hốt hoảng quăng cả lưới bơi lại xuồng và cùng má vội vã bơi xuồng về nhà. Mấy ngày sau ba má mới biết đó là chiếc quan tài của một đưa trẻ bị chết đuối giữa mùa lũ. Nấm mộ vừa chôn được mấy ngày thì quan tài bị lũ cuốn trôi. Kể từ lần đó ba má tôi không dám bơi xuồng đi chài cá vào đêm trăng mùa lũ nữa.

Ba tôi cùng tôi bơi xuồng sang thăm ông Tư hàng xóm. Ông Tư quê ở miền Trung. Ông Tư sống trong căn nhà lá nhỏ không vợ con suốt ngày thui thủi một mình. Ngồi vắt vẻo trên những thanh gỗ bắc ngang cửa ông Tư nhắp cạn ly rượu và khề khà: ”Người ta nói cáo chết ba năm quay đầu về núi. Tui không sợ chết nhưng tui sợ chết vào mùa lũ. Tui sợ lũ cuốn trôi quan tài linh hồn tui không quay về quê được….”

Ông Tư sống ở xóm này đã hơn bốn mươi năm. Ông không có miếng đất cắm dùi chỉ làm thuê làm mướn sống qua ngày. Ba tôi bảo: ”Anh Tư sống vậy mà khỏe. Không có gì ràng buộc. Muốn sống thế nào cũng được….”. Ông Tư rót đầy ly rượu cười khùng khục: ”Tui nhớ đất quê hương lắm. Xóm này là quê hương thứ hai của tui. Anh Hai biết không tui bị đẻ rơi ngoài đồng. Mẹ tui lấy chiếc áo thợ cấy bọc tui đem về nhà. Lớn lên tui cứ bị ám ảnh bởi cái mùi của bùn non…”. Ông Tư lần bước đến bên bàn thờ lấy chiếc hộp sắt tây rỉ sét mở nắp nhìn chăm chăm vào bên trong và nói:” Anh có biết cái gì bên trong này không?”. Ba tôi hỏi: ”Vàng hay gì vậy anh Tư?”. Ông Tư cười chậm rãi nói: ”Báu vật đó.”. Ông Tư nghiêng chiếc hộp sát vào mũi và hít lấy hít để. Gương mặt ông thanh thảnh như đang chìm đắm vào thế giới của hoài niệm. Lát sau ông Tư đưa chiếc hộp cho ba tôi và thì thầm: ”Đất…….quê hương tui đó. Trước khi rời quê hương vào Nam tui đã lấy nắm đất trước hiên nhà bỏ vào chiếc hộp sắt tây mang theo. Bao năm qua tui đã giữ chiếc hộp này như báu vật. Tui không hiểu tại sao tui lại nhớ cái mùi đất của quê hương như vậy. Có lẽ do khi bị đẻ rơi ngoài đồng tôi đã được ngửi mùi bùn ngai ngái…”

Ông Tư dốc cạn ly rượu cất giọng nghèn nghẹn: ”Mai này tui có mệnh hệ gì chắc phải nhờ anh Hai giúp. Tui muốn được hỏa thiêu. Anh nhớ trộn nắm đất quê hương trong chiếc hộp này với tro của thân xác tui. Anh giúp tui rải tro xuống sông để….nước cuốn trôi……..Hồn tui sẽ quay về quê hương.”. Ba tôi khề khà nói: ”Anh còn khỏe mà anh Tư. Anh đừng nói chuyện gở. Ý nguyện của anh tôi sẽ thực hiện. Thôi ! Bây giờ mình uống rượu đi…”. Ông Tư trầm ngâm một lát và nói: ”Tui hiểu sức mình mà anh Hai. Đời người rồi ai cũng phải về hư vô. Nhiều khi ngồi nhìn dòng nước tui nghiệm ra một điều: ở đời không gì thoát khỏi hư vô. Cuối cùng đời người chỉ còn nhúm tro màu trắng. Dù thế nào cũng phải có tấm lòng….”

Ba ngày sau ông Tư bị trúng gió và lặng lẽ ra đi. Ba tôi và bà con hàng xóm đã làm đúng tâm nguyện cuối cùng của ông Tư. Nắm đất quê hương được trộn với bình tro lấy từ lò thiêu và rải xuống dòng sông. Tôi thầm mong ở thế giới hư vô linh hồn ông Tư sẽ quay về với mảnh đất quê hương.

 

More...

Truyện ngắn: Ghét lộc- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường


 

Xóm Thạnh Mỹ xôn xao bởi vụ án giết người vừa được công an phát hiện. Hung thủ là một thằng bé mới mười bốn tuổi. Kẻ giết người tên Tý con của một chủ tiệm bán vải khá giả. Thằng Tý bị công an bắt vì tội vô ý giết một bé gái mười tuổi để lấy đôi bông tai. Công an chưa lý giải được tại sao Tý lại giết người. Không phải Tý lấy bông tai để bán lấy tiền mà là lấy xong rồi ném bỏ. Tý mê trò chơi điện tử đến nỗi quên cả ăn ngủ. Nhiều ngày nó bỏ học chìm đắm vào không gian ảo với những trò chơi bạo lực chém giết. Nó không thích ở nhà. Những cuộc cãi vã thường xuyên của cha mẹ khiến Tý chán ngán và mệt mỏi.  Khi công an hỏi tại sao lại giết người thằng Tý nói: "Con thấy con nhỏ này đeo bông tai giống hình lộc cây. Con thấy ghét định tháo bỏ. Nó tưởng con giựt của nó. Nó chửi con thế là con ghét con xô nó té đập đầu xuống nền xi măng. Con tháo đôi bông tai có hình giống lộc cây và ném vào bụi cây....".

Tý có sở thích quái lạ là thường đái lên những lộc non của những hạt cây hoang mọc ở cạnh hiên nhà. Nó thích thú quan sát những lộc non bị héo rũ thui chột. Hàng ngày ngoài giờ học và chơi điện tử nó tha thẩn ở khoảng đất trống cạnh hiên nhà. Tý không biết làm gì để khuây khỏa. Nó nhìn thấy những mầm biếc nảy lên từ những hạt nhãn mà người ta ăn xong rồi ném cạnh hiên nhà. Nó chợt thấy ghét những mầm cây trông giống hình chiếc bông tai. Thằng Tý ngồi chồm hổm lên mầm cây và đái. Nó thích thú nhìn dòng nước vàng nhợt tuôn xối xả lên lộc biếc. Tự dưng một sự thích thú và hả hê tràn ngập tâm hồn thơ ngây của Tý. Tý chợt nhớ một ngày mẹ của Tý đi xa mua vải về bán. Đi học về Tý bước vội vào nhà và sững người khi trông thấy ba nó đang ôm ấp một người phụ nữ trẻ. Hai người đang ngồi trên ghế sa-lông người phụ nữ gục đầu lên vai người đàn ông và hướng mặt ra phía cửa. Tý đứng sững và nhận ra vẻ mặt mê dại của người phụ nữ. Tý chợt nhận ra chiếc bông tai hình lộc cây của người phụ nữ sáng lấp lóa. Tý đứng chôn chân nhìn. Màu vàng lấp lóa giữa không gian. Tý bỏ ra ngoài hiên nhà và ngồi bệt xuống đất. Lát sau nghe tiếng hai người trò chuyện Tý bước vào nhà. Ba nó và người đàn bà đang ngồi trò chuyện như hai người xa lạ. Bước vào toa- lét rửa mặt Tý trông thấy chiếc bông tai hình lộc cây nằm trên nền gạch. Tý lấy bỏ vào túi. Lát sau Tý nghe giọng nói người phụ nữ oang oang: "Anh ơi. Em mất chiếc bông tai rồi.....Hồi nãy em tắm....". Ba Tý nói: "Để anh tìm xem... Em chờ chút....". Ba Tý bước vào phòng tắm thấy Tý đang rửa mặt liền hỏi: "Con có thấy chiếc bông tai nào không?". Tý nói: "Con không biết....". Nhìn vẻ mặt lơ ngơ của Tý người đàn ông như đoán được nỗi lo sợ của thằng bé. Ba Tý nói: "Thiệt không. Để ba kiểm tra xem nào....". Ba nó lục tìm khắp người nó và phát hiện chiếc bông tai nằm trong túi áo ngực. Người đàn ông cất giọng bực tức: "Cái gì đây? Sao vậy Tý. Sao con tham lam vậy? Con lấy để làm gì?". Tý nói: "Con ghét ba...Con ghét bà khách kia. Con định lấy.....". Người đàn ông hỏi dồn dập:" Con nói gì? Lấy cắp như vậy là xấu lắm. Con lấy làm gì? Định bán lấy tiền hả? Con đâu có thiếu tiền đâu....". Tý thản nhiên đáp: "Con ghét.... Thì lấy.....ném bỏ.... Con ghét...."

Công an đã tìm được chiếc bông tai là vật chứng nằm trong bụi cây. Điều tra viên hỏi: "Đây có phải là chiếc bông tai cháu đã lấy của cô bé hay không?" Tý thản nhiên đáp: "Dạ phải". Điều tra viên hỏi: "Cháu lấy chiếc bông tai này để làm gì?". Tý ấp úng một lát và nói: "Cháu ghét...... chiếc bông tai hình lộc cây....."

More...

Truyện ngắn: Xác ướp không trở lại- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường

Tôi là thạc sĩ sử học. Bao nhiêu năm đèn sách nhưng tôi chẳng tốn bao nhiêu tiền bởi vì toàn tiền chùa của nhà nước. Các tiểu luận bài nghiên cứu của tôi toàn viết về các sự kiện lịch sử mang tính “qui luật”: “Quân ta thắng quân địch thua”. Tôi được giám đốc Sở VHTT tỉnh T bổ nhiệm làm chánh văn phòng Bảo tàng tỉnh. Tôi chẳng khoái chức vụ nhưng nhiều lúc ngẫm nghĩ có một chút quyền lực để người khác phải nhờ cậy kể cũng oai. Bao nhiêu năm đi sưu tầm hiện vật lịch sử nhưng tôi chẳng phát hiện ra được cái gì có giá trị giữa ngổn ngang đống đồ đồng nát. Một lần tôi quan sát bộ xương của hai nhà sư ở thế kỷ XIX đang trưng bày ở Bảo Tàng tôi phát hiện một điều thật thú vị. Thịt da của nhà sư tan rữa nhưng vẫn còn một nhúm lông dính ở mép hốc xương chậu. Thật là điều kỳ diệu!…

Tôi sẽ viết một luận văn khoa học về xác ướp và sự tồn tại vững bền của những……chiếc…lông…chim..Ha ha ha!… 

Bảo Tàng nơi tôi làm việc đầy ắp các loại hiện vật thật và giả. Tôi khoái nhìn những hiện vật yô-ni và lin-ga bằng đá đặt ngổn ngang khắp nơi. Tôi hình dung nó đang cựa quậy co bóp và hút vào nhau hòa vào vũ điệu hoan lạc ngàn đời. Đời sống trần tục của con người có những điều tưởng tầm thường dung tục mà lại không thể thiếu và tồn tại mãi trong vòng trầm luân của thế gian. Tôi biết xác ướp của hai vị sư một đàn ông và một đàn bà. Tôi hình dung hai bộ xương khô khẳng khiu tự dưng xếp thành hình người vụt đứng dậy và lao vào nhau như hai con mãnh thú mùa động tình. Dù là nhà sư nhưng thân xác họ cũng chứa đựng dục vọng giống như con người trần thế… 

Tôi nhớ có lần ghé ngôi chùa mang tên Sắc Tứ gặp một ni sư đang quét sân.  Gương mặt ni sư trắng hồng ẩn hiện dưới chùm bông sứ trắng muốt trông thật gợi tình và thi vị. Đôi mắt lúng liếng nhìn bâng quơ mà như vực sâu hút lấy hồn tôi. Tôi chợt hình dung một ngày gương mặt quyến rũ kia sẽ chỉ còn hộp sọ vô tri với hai hố mắt đen ngòm…Cái đẹp chợt tan biến chỉ còn nỗi chết ám ảnh tâm trí tôi… 

Một lần gã bạn là cán bộ Ban Tuyên Giáo tỉnh T ghé qua Bảo Tàng rủ tôi đi nhậu. Tiện thể gã đảo qua một vòng xem các hiện vật cổ. Gã nhìn chăm chăm vào nhúm lông ở mép hốc xương chậu của bộ xương và mỉm cười nói: “Thật vĩ đại! Hơn 600 năm đã qua…Bao đền đài thành quách và bao ý thức hệ đã tiêu tan theo mây khói…Thế mà! Nhúm lông…chim thì vẫn hiện hữu thách thức cả….thời gian…Hì hì hì!..”. “Mày học triết nên bị bệnh nghề nghiệp rồi”-Tôi nói. Gã bạn bảo: “Có lẽ nhúm lông này sẽ làm tao thay đổi nhận thức làm thay đổi cả…đời tao…Vứt mẹ nó sách vở đi. Vứt mẹ kinh viện giáo điều đi…”. Tôi phì cười: “Mày chưa uống rượu mà muốn xỉn rồi. Coi chừng tao ghi âm nộp cho xếp của mày đó…”. Gã bạn ghé mặt gần sát vào mặt tủ kinh đựng bộ xương và bảo: “Gã xếp của tao cũng có ra chó gì đâu. Gã đi giảng kinh viện đạo đức mà lại làm chuyện đồi bại….Lão dụ dỗ con nhỏ ở dưới quê và làm con nhỏ sình bụng…Hi hi hi… Lão đang sống sờ sờ với vợ mà dám nói…vợ anh hy sinh ở R rồi…Đ.M….Thiệt là đồi bại…”. Tôi nói: “Thời nay sự đồi bại đang lên ngôi mà mày. Những kẻ đạo đức giả bất tài đang chiếm giữ quyền lực và thống trị diễn đàn xã hội…”. Gã bạn gật gù: “Mọi sự sẽ tan rã hết thôi mày ạ! Chỉ còn mấy sợi lông này…Hoan hô lông…chim…Lông chim muôn năm…À! Mày có nghĩ rắng xác ướp sẽ trở lại giống sự trở lại của xác ướp Ai Cập không?”. Tôi mỉm cười nói: “Tao khoái xác ướp một lần trở lại…Ni sư kia chắc đẹp và quyến rũ lắm…”. Gã bạn cười sằng sặc: “Mày đúng là kẻ đồi bại…Mơ tưởng tới cả xác ướp…À! Mà này! Nhiều kẻ đang cố tình dựng xác ướp anh hùng dậy để bắt mọi người xì xụp lạy đó…”. Tôi ngập ngừng nói: “Xác ướp thì vẫn chỉ là xác ướp. Mất thiêng rồi thì làm sao trở lại được…Chắc đêm nay tao sẽ gặp xác ướp trong giấc mơ…”. 

Đêm. Gió đập cửa. Giấc mơ hoang tôi thấy mình đang đứng bất động nhìn chăm chăm vào những sợi lông ở mép hốc chậu của xác ướp. Những sợi lông chợt bị gió cuốn bay đi. Tôi cuống cuồng chạy theo giơ tay cố túm lấy những sợi lông đang bay lơ lửng giữa bầu trời. Chân tôi bước hụt rơi xuống vực thẳm… Giật mình choàng tỉnh. Tiếng vợ tôi cất lên the thé: “Trời đất ơi! Anh làm gì mà túm tóc em giật đau muốn chết vậy?. Tôi lắp bắp nói: “Anh tìm…sợi lông…chim”. 

Mỹ Tho tháng 02-2009. 

 

 

More...

Tạp bút: Vọng sông xưa và Bay về đâu mộ gió?- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường


 

 

VỌNG SÔNG XƯA

 Buổi chiều. Tôi ngồi bên bờ sông Tiền ngắm nhìn bọn trẻ ngụp lặn bơi lội giữa dòng nước. Tôi chợt hình dung bóng dáng tuổi thơ tôi đang vẫy vùng giữa dòng sông. Tôi chợt chiêm nghiệm câu nói của một nhà triết học: "Không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông". Tôi đang chìm đắm trong suy tưởng về dòng sông của tuổi thơ hay thả hồn trôi theo dòng sông hiện tại? Dòng sông trong ký ức thì vẫn trong xanh mát rượi. Trước mắt tôi dòng sông lững lờ trôi đục ngầu phù sa chở theo bao thứ chất thải: rác thuốc trừ sâu chất thải bệnh viện... Tôi chợt cảm thương cho những đứa trẻ mải mê ngụp lặn giữa dòng nước mà không hề biết thân thể của mình đang bị bủa vây bởi vô vàn vi khuẩn gây bệnh và chất độc hại. Bây giờ tôi có thể tắm bơi lội một lần nữa trên dòng sông? Có thể được chứ! Dù sao tôi vẫn ngần ngại .....Dòng sông thì vẫn tuôn chảy như xưa nhưng cảm nhận của tôi về dòng sông thì đã đổi khác. Tôi chợt nhớ giấc mơ về một dòng sông đang....hấp hối vì bị ô nhiễm. Lẽ nào dòng sông thơ mộng trong ký ức lại trở thành dòng sông bị ô nhiễm? Tôi chợt khát khao một lần trở về tuổi thơ được hăm hở lao mình vào dòng nước mát và úp mặt xuống sông khẽ gọi: "Sông Tiền ơi!..."

BAY VỀ ĐÂU MỘ GIÓ?

 Chiều cuối tuần tôi ngồi trên bãi biển Gò Công ngắm nhìn sóng vỗ bờ ấp iu những hạt cát. Phía xa tôi chợt thấy một nấm mộ gió không hiểu đắp từ bao giờ. Nấm mộ gió lô nhô giữa những dấu chân người ẩn hiện bên bờ biển. Mộ gió không bia không ảnh không tên người mất...

Trong tâm thức bao đời của ngư dân nấm mộ gió dành cho người tử nạn bị mất xác giữa biển khơi. Trước sự hùng vĩ dữ dội của biển cả thân phận con người thật nhỏ bé và mong manh. Cơn giận dữ của biển cả của thiên nhiên đã cướp đi sự sống của con người.

Nấm mộ vô danh giúp cho người chết siêu thoát hay làm thanh thản tâm hồn người sống? Nấm mộ vô danh để gió cuốn đi? Nấm mộ vô danh để sóng cuốn đi? Dù thế nào tôi vẫn tin trong ký ức của người mẹ người vợ thời gian không thể cướp đi hình bóng của người con người chồng. Những hạt bụi trên nấm mộ gió sẽ bay về đâu? Thời gian sẽ xóa nhòa tất cả kể cả những nấm mộ trên trần gian này. Mộ gió sẽ bay về đâu? Mộ gió sẽ lang thang tìm linh hồn của con người giữa lòng biển bao la?

More...

Tạp bút: Phơi nắng- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường

 

 

Một sáng mùa đông cha tôi ngồi trước hiên nhà sưởi nắng. Gương mặt cha đăm chiêu như đang hướng về cõi xa xăm của ký ức. Lát sau cha bước vào nhà lục tìm trong ngăn tủ và lấy ra một chiếc hộp sắt tây. Cha mở nắp hộp và lật đi lật lại từng tấm ảnh trắng đen đã ố vàng và những chiếc huy chương bạc màu. Tôi hỏi: “Cha làm gì vậy?”. Cha tôi đáp: “Cha lấy những tấm ảnh này và mấy tấm huy chương đem phơi nắng”. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Cha nói gì? Đem phơi nắng hả? Nó đâu có… lạnh đâu mà cha phải… phơi nắng?”.

 

Cha tôi trầm ngâm một lát rồi bảo: “Đó là những tấm ảnh của cha và đồng đội thời chiến tranh. Dù nó đã cũ nhưng đối với cha nó rất quý giá. Kỷ niệm đẹp và đáng nhớ thì cũng cần phải gợi nhớ và phải ôn lại con ạ!…”. Tôi hỏi: “Cha phơi nắng những kỷ  vật  thời chiến tranh là dịp để nhớ lại để làm cho kỉ niệm luôn sống với thời gian?”. Cha tôi trầm tư đáp: “Đúng vậy con ạ! Kỷ niệm dù đẹp cũng cần phải… sưởi ấm nó bằng tình cảm bằng nỗi nhớ của trái tim. Chính vì vậy cha đem nó ra phơi nắng. Cha sợ nó bị… mốc meo theo thời gian cùng với sự lãng quên của tuổi già…”.

 

Tôi chợt nghe đâu đây vang lên tiếng trống múa lân tiếng loa truyền thanh thông tin về lễ công nhận khu phố văn hóa. Cha tôi vẫn ngồi lật từng tấm ảnh từng tấm huy chương xếp ngay ngắn giữa vạt nắng trước hiên nhà. Lát sau cha bảo: “Có những kỷ niệm không thể lãng quên con ạ. Nếu vô tình lãng quên người ta sẽ trở thành một kẻ vô ơn bạc bẽo. Lát nữa nhân dịp khánh thành khu sinh hoạt văn hóa của khóm người ta có mời cha nói chuyện truyền thống…”

Tôi ngồi lặng yên ngắm nhìn từng hình ảnh từng kỷ vật của cha. Tôi lục tìm trong ký ức của mình để xem có những kỷ vật nào cần phải đem ra để… phơi nắng.

 


 

More...