Nhà thơ và cuộc lưu đày xứ mộng*

By Võ Tấn Cường

alt

Lịch sử văn minh của nhân loại đã trải qua những phát kiến khám phá vĩ đại về khoa học kỹ thuật và vũ trụ nhưng sự bí ẩn của tâm linh con người thì vẫn luôn là thách thức chưa thể giải mã.

Khám phá bí mật sự xung động quá trình sáng tạo của nhà thơ cũng chính là lạc vào thánh đường hun hút của tâm linh con người. Hành trình của nhà thơ đi từ nỗi ám ảnh của vô thức đến sự ra đời hoàn chỉnh của bài thơ trên trang giấy dài thăm thẳm và là cuộc “lưu đày” bất tận vào xứ mộng. Cuộc “lưu đày” vào xứ mộng diễn ra trong từng khoảnh khắc sáng tạo và cả cuộc đời của nhà thơ. Người ta có thể đếm được xác phù du gục chết dưới chân sau khi lao vào xứ sở của ánh sáng nhưng lại chẳng thể biết được có bao nhiêu nhà thơ giữa cuộc lưu đày vào xứ mộng đã vĩnh viễn đem theo xuống mồ nỗi hoài vọng về cái đẹp và sự khát khao hòa điệu với sự sống.

Nhà thơ chính là kẻ “lưu đày” âm thầm tự nguyện vào xứ ở của sự cô đơn và cõi mộng. Trên đường hướng về xứ mộng nhà thơ phải xa lánh mọi vinh hoa và phú quý tống tiễn mọi cám dỗ của trần thế để lựa chọn sự dấn thân bất chấp hiểm nguy nhằm cứu chuộc cái đẹp trong bản ngã chính mình và vũ trụ. Xứ mộng là vương quốc bao la là xứ sở của sự an nhiên và tự tại là nơi hội tụ của mọi thái cực như hạnh phúc và bất hạnh ảo và thực ánh sáng và bóng tối… Xứ mộng không ở đâu xa nó thấp thoáng đâu đây nó ẩn sâu trong bản ngã nhưng chúng ta không nhìn thấy nó chính là do chúng ta bị những “thị dục” của trần thế lôi cuốn và che lấp. Mộng và thực hư ảo và trần thế là hai cõi đi về của nhà thơ trong quá trình sáng tạo. Nhà thơ chính là gạch nối kỳ diệu giữa mộng và thực thiên đàng và địa ngục thế giới ngày nay và sự sống ngày mai…

Nhà thơ tự “thôi miên” chính mình và bạn đọc bằng linh cảm về sự du dương của nhạc điệu và sự liên tưởng cùng những hình ảnh huyền ảo quyến rũ bất ngờ. Nhà thơ sáng tạo thế giới thi ca chính là tạo dựng một thế giới mộng mơ. Thế giới mộng mơ liên hệ với thế giới loài người đang sống như hai chiếc bình thông nhau trong thế giới ngôn từ thi ca. Trong quá trình sáng tạo nhà thơ tri giác và suy tưởng không hướng về thực tại mà “siêu thoát” về thế giới kỳ ảo huyền diệu của mộng mơ. Thi ca dù sáng tác theo trường phái lãng mạn hay hiện thực ấn tượng hay tượng trưng cũng đều hướng về sự mơ hồ lung linh hình ảnh ý nghĩa và sự gợi cảm tạo hình của ngôn từ tạo vật. Thi hào Tagore từng viết: “Tình yêu là sự ảo hóa”! Vâng chính sự ảo hóa đã làm cho tình yêu thêm kỳ diệu và là chất men khiến tình yêu thêm sinh sôi tràn đầy sức sống. Không gian vũ trụ và tâm tưởng của các cuộc gặp gỡ giữa Romêo và Julliett giữa Trần Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh giữa Kim Trọng và Thúy Kiều giữa Chí Phèo và Thị Nở đều tràn đầy sự mơ mộng lung linh và huyền ảo. Thi ca cũng vậy. Chính sự ảo hóa đã khiến thi ca còn cần thiết với tâm linh con người. Thi ca là sự ảo hóa và nhà thơ thường sáng tạo trong sự ảo hóa của tâm linh và sự vật. Không hiếm những bài thơ tuyệt tác đã ra đời trong cơn mơ hoặc giữa sự chập chờn của lý trí và cảm xúc giữa mộng và thực. Thi sĩ Coleridge sau một cơn say á phiện trong giấc ngủ mơ màng đã sáng tạo nên một bài thơ bất hủ nhan đề “Hốt Tất Liệt Hán”. Thi sĩ Tô Đông Pha cũng viết về sự liên hệ hòa nhập giữa mộng và thực tùy thuộc vào khoảng cách của “tầm nhìn” tâm linh con người:

Khói ngút non lô sóng Triết Giang
Khi chưa đến đó luống mơ màng
Đến rồi hóa vẫn không gì khác
Khói ngút non lô sóng Triết Giang

Nếu con người là “cây sậy biết tư duy” thì nhà thơ phải là người biết mộng mơ và có khả năng biểu hiện nỗi mộng mơ của mình lên trang giấy. Đừng xem thường giấc mộng. Giấc mộng là một nửa cuộc đời của một con người nhưng lại là cả cuộc đời của nhà thơ. Một mùi hương xa xôi thoang thoảng có thể gợi nhớ lâu dài và bền vững hơn cả lâu đài thành quách hàng triệu năm. Một giấc mộng cũng có thể làm biến đổi cuộc đời một con người hơn cả một giáo lý một tư tưởng triết học. Khả năng mộng mơ phần nào bộc lộ phẩm hạnh thi ca của nhà thơ. Những nhà thơ nào mà tâm hồn cạn kiệt nguồn suối mộng mơ thì có thể xem như thi ca của họ đã giãy chết. Đã có thời người ta cho rằng cõi mộng là sự thoát tục đối lập với thực tế. Thực ra lý luận về phản ánh hiện thực đối với quá trình sáng tạo thi ca của nhà thơ thật chẳng khác gì việc nhốt gió mây trăng sao vào chiếc rọ chật hẹp tù hãm. Lịch sử thi ca đã minh chứng rằng tất cả các trường phái ấn tượng siêu thực tượng trưng lãng mạn và hiện thực cũng chỉ là “bước quá độ” của hành trình thi ca hướng về xứ mộng với nguồn thơ tràn đầy năng lượng tâm linh ẩn chứa cả cái mộng và cái thực vén mở và hòa nhập với cõi uyên nguyên bí ẩn của vũ trụ.


Sự sáng tạo của nhà thơ trên hành trình đi đến xứ mộng chính là sự “vượt thoát” của bản ngã qua mọi rào cản ranh giới và hố thẳm để hòa nhập với hồn của tạo vật và vũ trụ. Nhà thơ chắp cho chiếc lá hòn đá và cánh chim hơi ấm của linh hồn vừa như một sự ân sủng vừa như một sự trả ơn. Thi hào Puskin và Victo Hugo từng bị lưu đày theo đúng nghĩa đen nhưng hai ông vẫn “vượt thoát” khỏi chốn tăm tối của tù ngục để hướng về cõi mộng mơ thẳm sâu của tâm hồn vũ trụ và đã để lại cho hậu thế những bài thơ bất hủ. Đấy chính là một trong vô vàn biểu hiện về sự “lưu đày” xứ mộng của nhà thơ vào sâu thẳm tâm linh và tạo vật…

Ngôn ngữ thi ca của nhà thơ hàm chứa sự bí ẩn với những hình ảnh như trong một giấc mơ được sắp xếp liên hệ với nhau theo một cơ cấu riêng mà lý trí thường không thể giải mã nổi. Trong quá trình tiếp nhận ngôn ngữ và hình tượng thi ca sẽ “phát sáng” trong trường mộng mơ của tâm hồn bạn đọc. Nó sẽ chìm sâu vào tiềm thức và khuấy động tất cả những gì thẳm sâu nhất của tâm hồn. Khi ấy xứ mộng của nhà thơ lại hồi sinh và giao hòa với cõi mộng của tâm linh con người.

 

V.T.C

 

* (Rút trong tập tiểu luận phê bình: “Nhà thơ và cuộc lưu đày xứ mộng”)

 

 

More...

Bìa sách: Nhà thơ và cuộc lưu đày xứ mộng

By Võ Tấn Cường

alt

Nhà thơ Trương Trọng Nghĩa thiết kế.

 

 

 

 

More...

Sự phù phiếm của thi ca- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường



 

 

Có một nhà thơ thuở sinh thời không xuất bản một tập thơ nào cả. Khi ông chết bạn bè khắc lên bia mộ ông một bài thơ mà ông tâm huyết như một thông điệp gửi hậu thế và thế giới hư vô. Có một người cay đắng tự chiêm nghiệm về sự phù phiếm của thi ca.

Có một chàng thi sĩ thất tình. Người chàng yêu cắt đứt tình yêu với chàng để giữ mối quan hệ với một ông già cung phụng cho nàng nhu cầu vật chất. Chàng đau đớn nhận ra sự phù phiếm của thi ca.

Sự phù phiếm của thi ca giống như sự phù phiếm của không khí đối với sự sống của con người. Chỉ khi con người sống trong không gian ngột ngạt tù túng mới nhận biết được giá trị của không khí và không gian thoáng đãng đối với sự sống và thế giới tâm hồn.

Điều trớ trêu là thi ca có thể nuôi dưỡng làm phong phú tâm hồn nhưng lại không thể nuôi sống được xác thân con người. Giống như tình yêu có thể nuôi sống linh hồn nhưng lại thường gây đau đớn cho thể xác.

Thi ca bất lực trước cái chết nhưng lại có thể xoa dịu nỗi đau của con người trước sự ngắn ngủi mong manh của kiếp người.

Thi ca tồn tại trong sự phù phiếm của chính nó trong mối tương quan với sự vật và cuộc sống. Thi ca giống như hương hoa của núi đồi của đất trời có thể trở nên phù phiếm giữa hương hoa ngạt ngào của nước hoa trong căn phòng xa hoa lộng lẫy.

Thi sĩ thường chiêm cảm về sự  phù phiếm của thi ca trước nhu cầu tiêu dùng của con người thời hiện đại. Việc chạy theo nhu cầu tiêu dùng khiến con người dễ trở thành nô lệ của hàng hóa và đồ vật.

Thi ca chính là sự mộng tưởng về một thế giới đã mất và một thế giới ở tít mù phía tương lai. Thi sĩ giống như người gieo hạt giống niềm tin trên cánh đồng mộng mơ. Hạt giống sẽ nhỏ nhoi và vô nghĩa đối với một người đang đói khát.

Bài thơ chỉ là xác chữ phù phiếm nếu hình tượng thi ca không được tái tạo hồi sinh trong thế giới tâm linh của bạn đọc.

Người ta chỉ là một sinh vật sống nghèo nàn về tâm hồn nếu cuộc sống thiếu đi những điều nhỏ nhoi phù phiếm như: một tiếng gọi yêu thương một bàn tay ấm áp một màn sương lãng đãng mơ hồ một làn hương gợi nhớ một kỷ niệm xa xăm...Tôi yêu mến những sự phù phiếm nhỏ nhoi của sự vật và của thi ca. Tôi đang sống hết mình với trạng thái tình yêu của trái tim và tâm hồn tôi dành cho em và cái đẹp của cuộc đời. Trạng thái tình yêu là phù phiếm ư? Dù thế nào tôi cũng đã sống tận cùng trong trạng thái hạnh phúc và khổ đau. Giống như thi sĩ hạnh phúc và khổ đau trong chính quá trình sáng tạo. Ngẫm nghĩ về sự phù phiếm của thi ca lại càng thấy yêu những điều phù phiếm. Yêu để thêm nâng niu cái đẹp mong manh dễ tan vỡ để biết sống chân thành và mãnh liệt tận cùng trong kiếp người ngắn ngủi. Nghĩ về sự phù phiếm để nhận ra một điều giản dị: trước thế giới hư vô mọi thứ chẳng phải đều là phù phiếm hay sao?

Tháng 03-2010

More...

Vai trò của lý luận phê bình đối với sự phát triển của văn học nghệ thuật- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường



 

Ngày 05-11-2009 Hội VHNT tỉnh Tiền Giang tổ chức cuộc tọa đàm với đề tài: "Nâng cao trách nhiệm của văn nghệ sĩ và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kỳ mới". Tác giả VTC tham dự tọa đàm với tham luận: "Vai trò của lý luận phê bình đối với sự phát triển của văn học nghệ thuật". Xin giới thiệu đến cộng đồng VNWEBLOGS.COM tham luận này.



Một nhà văn hiện đại của Việt Nam từng có câu nói nổi tiếng đại ý như sau: "Tôi chỉ sáng tác vào ban đêm khi nhà phê bình văn học đi...ngủ". Câu nói trên phần nào cho thấy sự "dị ứng" của các nhà văn Việt Nam đối với công việc của các nhà lý luận phê bình văn học. Nhiều thập kỷ qua lý luận phê bình văn học nghệ thuật Việt Nam thường giữ vai trò như chiếc roi ngựa "quất" vào con ngựa sáng tác để nó "lồng" lên hoặc giữ vai trò cổ vũ động viên để văn nghệ sĩ sáng tác theo một định hướng một chủ trương đường lối nào đó. Trên thực tế nhà lý luận phê bình văn học nghệ thuật thường bị đánh giá là "ăn theo" hoặc "theo đuôi" văn nghệ sĩ. Các nhà lý luận phê bình đã bỏ quên thiên chức của mình. Nhìn một cách lý tưởng trên hành trình sáng tạo cùng với các văn nghệ sĩ các nhà lý luận phê bình văn học nghệ thuật phải thấu triệt được thiên chức của người viết lý luận phê bình và hiểu rõ chức năng vai trò của lý luận phê bình đối với sự phát triển của văn học nghệ thuật. Có như vậy lý luận phê bình văn học nghệ thuật mới tìm được chỗ đứng trong tiến trình phát triển văn học nghệ thuật của dân tộc.


Thành tựu của lý luận phê bình về văn học nghệ thuật mang tính toàn cầu hóa. Lý luận phê bình được hình thành qua các trường phái trào lưu văn học nghệ thuật và xâm nhập vào các quốc gia. Có thể kể qua các trào lưu trường phái lý luận phê bình nở rộ qua từng thời kỳ và ảnh hưởng đến lý luận phê bình của Việt Nam như: phê bình theo phương pháp phản ánh hiện thực phê bình thi pháp học phê bình cấu trúc phê bình bản thể luận phê bình phân tâm học phê bình theo phong cách học phê bình theo chủ nghĩa hậu hiện đại...vv...So với các nước khu vực và thế giới ở Việt Nam quan niệm về
lý luận - phê bình văn học nghệ thuật ra đời rất muộn và hầu hết mang tính tự phát. Chính vì thế lý luận phê bình văn học nghệ thuật khó tránh khỏi một số hạn chế và lạc hậu.  Khoảng hơn hai thập niên qua các nhà lý luận phê bình mới bắt đầu đặt ra vấn đề xây dựng nền lý luận - phê bình văn học nghệ một cách khoa học và giới nghiên cứu về văn học nghệ thuật bắt đầu tiếp nhận và sử dụng kiểu tư duy phân tích- một sản phẩm tư duy có nguồn gốc phương Tây. Kể từ đây lý luận phê bình văn học nghệ thuật mới thực sự vừa mang tính khoa học vừa mang tính sáng tạo.


Lý luận phê bình văn học nghệ thuật bao gồm các quan điểm đánh giá về quá trình hình thành phát triển của văn học nghệ thuật các trào lưu trường phái cơ chế sáng tạo của văn nghệ sĩ sự tiếp nhận của người thưởng ngoạn và các hiện tượng văn học nghệ thuật. Để phát triển nền lý luận phê bình chúng ta cần phải đào tạo những nhà lý luận phê bình văn học nghệ thuật mang tính chuyên nghiệp. Ở Việt Nam hiện vắng bóng những nhà lý luận phê bình có tâm huyết và có nghề. Tuy nhiên lý luận phê bình phải trở thành sự tự ý thức của văn nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo. Khi văn nghệ sĩ tự ý thức về đặc trưng của từng loại hình văn học nghệ thuật và cơ chế sáng tạo của người nghệ sĩ thì sẽ khai mở được thế giới nội tâm và chuyển hóa được chất liệu sống thành tác phẩm văn học nghệ thuật.

Hệ thống lý luận phê bình của Việt Nam phải ra đời hình thành từ chính hiện thực đời sống văn học nghệ thuật hiện đại của Việt Nam chứ không phải mô phỏng vay mượn hệ hình lý luận phê bình của thế giới. Lý luận phê bình có chức năng phát hiện định hướng và cổ vũ cho cái mới trong hoạt động sáng tạo của văn nghệ sĩ. Lý luận phê bình giúp văn nghệ sĩ thức tỉnh cái tôi sáng tạo để khơi gợi những góc khuất thẳm sâu trong thế giới nội tâm. Nhà khoa học kỹ thuật phải nắm chắc qui trình kỹ thuật sản xuất của một loại hàng hóa nào đó. Văn nghệ sĩ không hiểu bản chất của cơ chế sáng tạo mà chỉ sáng tác thao bản năng thì chỉ có thể tạo ra những tác phẩm thiếu chiều sâu về tư tưởng và thiếu sự độc đáo về nghệ thuật. Cơ chế sáng tạo của nghệ sĩ là sự bí ẩn mà lý luận phê bình cần tìm hiểu phát hiện và lý giải.


Lý luận phê bình văn học nghệ thuật giữ vai trò đồng hành với quá trình sáng tạo của văn nghệ sĩ. Lý luận phê bình văn học phải hướng tới sự khai phá và mở đường. Nếu không lý luận phê bình sẽ bị tụt hậu so với sáng tác và sự tồn tại của lý luận phê bình sẽ trở thành vô nghĩa. Lý luận phê bình đúng nghĩa cũng chính là sự sáng tạo hoặc ít nhất phải là sự khơi gợi kích thích sự sáng tạo của văn nghệ sĩ. Lý luận phê bình phải vừa khai mở dò đường vừa phải soi bóng vào tác phẩm văn học nghệ thuật để khám phá giải mã tác phẩm.


Việc nghiên cứu một cách có hệ thống các hệ hình lý luận phê bình văn học nghệ thuật trên thế giới để tiếp thu có chọn lọc đang là sự đòi hỏi búc xúc.
Trên cơ sở quan điểm khoa học về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn chúng ta cần nhìn nhận về lý luận phê bình văn học nghệ thuật là một hệ thống mở. Như một dòng sông tuôn chảy và hòa nhập các dòng nước khác nhau hệ thống lý luận phê bình văn học nghệ thuật cần khai mở và dung nạp những quan niệm hệ hình phê bình mới để làm phong phú đa dạng hệ thống lý luận phê bình văn học nghệ thuật. Hiện thực sáng tạo của văn nghệ sĩ luôn thay đổi và vận động theo sự biến đổi và nhu cầu của thời đại. Chính vì thế những quan niệm lý luận văn học về phản ánh hiện thực đã trở thành chiếc áo quá khổ không còn phù hợp để đánh giá thẩm định các tác phẩm văn học nghệ thuật. Lý luận văn học nghệ thuật chỉ thật sự làm tốt vai trò nếu nắm bắt kịp thời khái quát kịp thời những vấn đề mới nảy sinh trong vận động phát triển của thực tiễn văn học học nghệ thuật của từng địa phương và quốc gia.


Tháng 11-2009

More...

Số phận của bài thơ- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường


Một ngọn gió một giọt sương một giọt máu đều có số phận riêng giữa cõi vũ trụ bao la và đầy bất trắc. Một sinh linh có số phận giữa cuộc đời. Bài thơ có số phận chăng? Nhà thơ sáng tạo ra bài thơ nhưng lại không thể chi phối tác động đến sự tồn tại và số phận của bài thơ. Bài thơ có số phận riêng của nó giữa cuộc đời và giữa thế giới thăm thẳm của đời sống tâm linh con người.


Bài thơ vận vào phận người hay thân phận của bài thơ vận vào nhà thơ? Có bài thơ chỉ được trao giải thưởng khi ban giám khảo biết rằng nhà thơ đã chết. Có nhà thơ suốt đời lận đận lao đao vì bài thơ bị cho là phạm huý ám chỉ về chính trị.

Bài thơ ra đời từ thế giới vô thức tuôn trào trên trang giấy (màn hình) giống như tia chớp lóe sáng giữa bầu trời và biến mất không để lại dấu vết gì trong tiềm thức. Kể từ khoảnh khắc đó bài thơ bắt đầu có số phận riêng. Tuy nhiên hình tượng bài thơ vẫn như một vết xước ám ảnh tâm thức của nhà thơ. Bài thơ như một sinh linh bé bỏng bước ra giữa cuộc đời. Có thể nó sẽ vụt lớn dậy. Có thể nó sẽ chịu số phận hẩm hiu bị lãng quên. Dù thế nảo thì mỗi bài thơ cũng có số phận riêng giống như số phận của nhà thơ vậy.


Số phận của bài thơ làm lên tên tuổi của nhà thơ và tạo nên vị thế của nhà thơ trong thế giới tâm linh của người đọc. Nhà thơ Lê Đạt từng viết đại ý rằng: "Chữ bầu lên nhà thơ". Thực ra chữ trong bài thơ do nhà thơ tạo ra trên cơ sở chuẩn mực ngôn ngữ của cộng đồng. Chữ chỉ "bầu" lên nhà thơ khi nó mang dấu ấn tâm hồn tính cách và sự sáng tạo của nhà thơ. Khi bài thơ ra đời và được in ấn công bố từng con chữ và toàn bộ bài thơ chỉ tồn tại và tái sinh trong thế giới tâm hồn của người đọc. Mặc dù hình thức và nội dung bài thơ có giá trị tự thân nội tại nhưng nếu bài thơ chưa được bạn đọc tiếp nhận thì nó chỉ là những con chữ vô tri thiếu sức sống...


Hình hài của bài thơ được cấu tạo bởi từng con chữ hình tượng và nhịp điệu của bài thơ. Hình hài của bài thơ mang máu thịt tâm hồn và  mang dấu ấn đời sống tâm linh của nhà thơ. Chính vì thế số phận của bài thơ thường gắn liền và mang bóng dáng số phận cuộc đời của nhà thơ. Những bài thơ tình những bài thơ viết về những mối tình tan vỡ dở dang lại thường là những bài thơ hay. Số phận một cuộc tình thường sống mãi trong tâm hồn nhà thơ và được chuyển hóa thành thế giới hình tượng của bài thơ. Những cuộc tình ngắn ngủi mong manh dễ tan vỡ thường gợi cho nhà thơ viết lên những bài thơ tình say đắm thổn thức hồn người.


Số phận của bài thơ cũng thường gắn liền với số phận của người đọc. Những giai đoạn khác nhau của cuộc đời tùy theo sự thay đổi của tâm trạng kinh nghiệm sống và sự trải nghiệm bạn đọc có thể thích bài thơ này hay không thích bài thơ khác. Nhiều bài thơ có thể thời tuổi trẻ một người nào đó rất thích nhưng tới một độ tuổi nào đó lại không còn yêu thích nữa. Họ rời bỏ những bài thơ này để hướng tâm hồn đến những bài thơ khác phù hợp với tâm trạng và sự trải nghiệm của họ hơn. Khi ấy bài thơ đã làm xong "sứ mệnh" của nó trong đời sống tâm hồn của mỗi người. Bài thơ đành nép mình trên trang giấy trên màn hình chờ đợi "mắt xanh" của một bạn đọc tri âm vô danh nào đó...


Tôi tin bài thơ có số phận riêng. Có bài thơ hay bị một kẻ đạo thơ đánh cắp. Nó bị giải phẫu hình hài (thường bị làm xấu đi) và bị gán ghép nằm cạnh cái tên xa lạ nào đó. Tôi tin bài thơ đã bị tổn thương và nó mong mỏi ngày nào đó nó sẽ được trở về với hình hài thật của nó và nằm cạnh tên tác giả thật. Người xưa từng nói đại ý rằng trong chữ có máu và có cả ma quỷ. Tôi tin trong bài thơ có những mảnh linh hồn của nhà thơ. Người ta có thể cướp đi mạng sống của nhà thơ nhưng những mảnh linh hồn của nhà thơ trong mỗi bài thơ thì thường bất tử sẽ chẳng có ai cướp được cả.


Khi nhà thơ tin vào số phận của bài thơ thì anh ta không cần phải toan tính tìm cách quảng bá phổ biến tác phẩm. Sự tồn tại và sức sống nội tại của bài thơ sẽ quyết định số phận của nó. Khi bài thơ sinh sôi trong thế giới tâm linh của người đọc bài thơ sẽ trở thành một sinh linh một số phận cần thiết cho con người và cuộc đời.


Mỹ Tho tháng 06-2009

More...

Nội lực và cá tính sáng tạo- Vũ Tuấn

By Võ Tấn Cường

 

 

Đứng ở góc độ của nhà phê bình nhà thơ Võ Tấn Cường đặt ra yêu cầu bức thiết cho bản thân các "nhà thơ ĐBSCL cần đào luyện và tạo dựng một hệ thống ý thức triết học quan niệm sáng tạo và quan niệm thẫm mỹ riêng". Đây là một yêu cầu tự giác có tính nâng cao bản lĩnh sáng tạo của nhà thơ vừa bắt buộc vừa không bắt buộc. Bởi chính bản thân mỗi nhà thơ phải xác định được thế đứng của mình trong diện mạo chung của thơ ca ĐBSCL.

Tâm lực vật lực tài lực thi lực … của nhà thơ có nội lực đến cấp độ nào ? Bản sắc văn hoá cá nhân cộng với bản sắc văn hoá vùng miền có đủ sự mạnh mẽ hun đúc làm nên bản lĩnh sáng tạo riêng ? Trong đó nhà thơ được ví như một giáo chủ có nhiều tín đồ … (mượn ý là nhà thơ Nguyễn Thạnh).

Lực bất tòng tâm. Muốn là một lẽ. Vận động cá nhân của mỗi nhà thơ để đi vào qũy đạo chung tạo ra một từ trường thơ có tiếng nói mạnh mẽ vẽ lên được bản sắc thơ của con người và vùng đất nầy phải chờ hội đủ nhiều yếu tố cần và đủ khác.

Tôi biết nhà thơ Võ Tấn Cường có đủ điều kiện để tiếp cận với thơ rất sâu sát. Anh có sức học sức đọc sức cảm sức nghĩ sức viết rất dồi dào đáng khâm phục … Mở rộng biên độ cảm xúc của mình anh không chấp nhận sự sáo mòn trong sáng tạo nghệ thuật luôn luôn khám phá tìm tòi. Đó là bản lĩnh sáng tạo của người nghệ sĩ. Ta khoan bàn đến cái kết thúc có hậu mà hãy  hoan nghênh trước hết cái thiên hướng khai phá gợi mở tạo nhiều tiền đề hứng thú cho người nghệ sĩ làm việc … Anh yêu cầu cao đối với thơ là lẽ dĩ nhiên anh muốn các nhà thơ phải “hướng cảm hứng và tư tưởng đến các trào lưu trường phái thơ khác như : ấn tượng tượng trưng siêu thực hậu hiện đại tân hình thức để khai thác thủ pháp sáng tạo nhằm tạo dựng những phong cách thi ca độc đáo". Nhưng trong sáng tạo văn chương người ta không chấp nhận sự áp đặt. Có nhiều người nói thế nầy "làm gì mà quan trọng thế văn chương thì cũng bình thường thôi : tôi khoái cái gì nhẹ nhàng một tí"! Viết đến đây tôi sợ mình lạc đề nhưng thật lòng mà nói thưởng thức văn chương cũng như thưởng thức khẩu vị ẩm thực mỗi người mỗi vẻ với anh thì ngon thì hay nhưng với tôi thì ngược lại. Tuy nhiên nói như nhà bác học Lê Qúi Đôn thì "văn chương là của mọi nhà có thể phẩm bình nhưng không được chửi mắng"! Rốt cuộc cũng là tôn trọng cá tính sáng tạo biệt lập của mọi người trong ngôi nhà văn học chung. Truyền thống và hiện đại vẫn cứ song hành.

Tôi biết có nhiều người làm thơ thiếu điều kiện để có thể gọi là chuyên nghiệp (chưa  kết nối internet không bao giờ đọc các tờ báo văn chương chính thống ít giao lưu tìm không khí sáng tác… ) nói như nhà thơ Trần Đổ Liêm trong bài trao đổi "vùng đất nào hồn thơ đó"  thì tôi có một cảm nhận là nhiều tác giả sáng tác kiểu amatuer chứ chưa ý thức nghiêm túc trước tác phẩm của mình. Đã không coi việc làm thơ của mình là một nghề để đeo đuổi đào luyện chỉ xem như tay trái viết để giải tỏa nhu cầu bức xúc cá nhân rảnh rỗi thì mới làm … "tính ngẫu hứng lấn áp tính định hướng nhân văn" (nhà thơ Lê Chí) thì làm sao các nhà thơ có thể tự nâng cao tầm kiến thức tầm tư tưởng sáng tạo của mình lên được ?

Mỗi nhà thơ hàng năm chỉ in đôi bài thơ trên các tạp chí văn nghệ địa phương được chăng hay chớ … không liên kết xuất bản được với một cơ quan nào không ai đặt hàng ra đề cương sáng tác ít giao lưu hội thảo nâng cao nắm bắt tình hình … Mỗi nhà thơ tự bó buộc trong ốc đảo của riêng mình mày mò cùn nhụt vốn sống bẩm sinh cạn kiệt.

Nhà thơ ngoài việc lo cơm áo gạo tiền thỏa hiệp với trăm nghìn hệ lụy khác của đời sống đôi lúc họ cũng "quên bén" đi mình còn có sứ mệnh của một nhà thơ trên vùng đất luôn được  ngợi ca là trù phú màu mỡ phù sa nầy.

Cảm ơn lời nhắc nhở của nhà thơ Võ Tấn Cường. Không phải đợi đến lúc cái bụng no cơm ấm áo rồi mới làm thơ chuyên nghiệp. Mà hơn lúc nào hết mỗi nhà thơ ngay từ bây giờ nếu còn cầm bút còn vì bạn đọc phải tự vấn lương tâm mình xóa bỏ mặc cảm tự ti làm việc hết mình học hỏi hết mình khai thác tận cùng cái bản ngã sở trường vốn có của mình để trao cho bạn đọc những tác phẩm ưng ý nhất. Để khi gặp nhau không còn “chủ yếu tán gẫu kể chuyện giai thoại và rỉ rả bên chai rượu …".

Nhà thơ Võ Tấn Cường đã nhận diện gương mặt thơ ĐBSCL khá chính xác. Anh có chiêu thức nào mới xin tung ra để kết nối nội lực của các nhà thơ trên vùng đất nầy tạo nên sự cộng hưởng mạnh mẽ hơn nữa được chăng ?

Ngày  3  tháng 01 năm 2009

 

 

 

More...

Trao đổi với Võ Tấn Cường: "Vùng đất nào hồn thơ đó"- Trần Đỗ Liêm

By Võ Tấn Cường

 

Không phải là người phê bình văn học nhất là phê bình thơ tuy nhiên tôi cũng đã đọc và tiếp xúc được khá đông tác giả thơ Đồng bằng sông Cửu Long nên cũng có một số ấn tượng nhất định về lực lượng sáng tác thơ vùng đất Rồng này. Nay đọc bài "Nhận diện thơ ĐBSCL" của nhà thơ Võ Tấn Cường tôi có một vài ý kiến muốn trao đổi.

Từ xưa đến nay để đánh giá nhận định một vấn đề sự kiện... người ta thường dùng thuyết "Tam tài" làm cơ sở theo tôi đó là một cách tiếp cận khách quan và dễ đạt đến nhận định chính xác. Thuyết "Tam tài" có thể nói ngắn gọn là thuyết về Thiên – Địa – Nhân. Thiên là trời là khí tượng và vận hành của vũ trụ theo qui luật và không theo qui luật. Địa là đất (bao gồm cả nước) là cơ sở của sự tồn tại của con người và vạn vật trên trái đất. Nhân tức là con người sinh sống trên đất tiếp xúc với trời. Ba thực thể này luôn tiếp xúc bổ trợ cho nhau giúp nhau phát triển hủy diệt và sinh sôi...

Như vậy thì đất trời nào con người đó ví như người da trắng sinh ở xứ lạnh da vàng sinh ở xứ ôn đới da đen sinh ở nhiệt đới mặc dù cấu trúc hình đều là người nhưng suy nghĩ quan niệm ăn mặc phong tục tập quán không giống nhau... Đó là phạm vi rộng còn phạm vi hẹp thì vùng núi vùng thành thị vùng nông thôn vùng sông nước… sẽ có con người của vùng đó văn hóa của vùng đó. Người đồng bằng sông nước lên đến rừng núi thì sẽ sợ phát khiếp các đỉnh non cao các hang hốc rừng cây âm u... Ngược lại người vùng núi xuống miền sông nước thì mới nhìn sông Tiển đã tưởng là biển không dám bước chân lên tấm đòn dài để xuống ghe tàu dù có người dắt...

Cuộc sống hình thành nền văn hóa cuộc sống nào văn hóa đó con người sinh ra rồi sống và làm việc tại nơi nào thì ảnh hưởng văn hóa đó. Vì vậy ta mới có văn hóa thị thành văn hóa đồng bằng văn hóa miền núi... và không ai dám khẳng định văn hóa vùng này hơn văn hóa vùng kia bởi triết lý về văn hóa không có mệnh đề thứ bậc cao thấp hơn kém. Nếu ai định và đã làm việc so sánh hơn kén thì người đó có thể bị coi là hồ đồ. Văn hóa vùng miền quốc gia... đa dạng đa sắc góp phần làm cho văn hóa nói chung thêm phong phú giàu có.

Thơ là một bộ phận của văn hóa nó luôn phụ thuộc vào bề dầy của cuộc sống tâm thức của con người trong một vùng đất. Vùng đất nào thơ văn mang hồn vùng đất đó. Không thể nào người sinh sống ở đồng bằng sông Cửu Long lại có tâm hồn phong cách thơ của người Hà Nội đơn giản Hà Nội là trung tâm chính trị kinh tế xã hội của quốc gia tư duy văn hóa của người ở đó khác vùng đồng bằng vương quốc sông rạch hầu hết con người sống bằng nghề ruộng vườn gần gũi với thiên nhiên. Người từ Hải Phòng Thái Bình vào sinh sống ở đồng bằng sông Cửu Long thì thơ của họ cũng mang hồn phách đồng bằng. Nếu có những bài thơ về nơi chôn rau cắt rốn thì cũng chỉ là những bài hoài niệm mà thôi.

Vì vậy theo tôi không thể "bắt" hoặc yêu cầu các nhà thơ Đồng bằng sông Cửu Long viết và suy nghĩ như những nhà thơ ở vùng khác được. Có chăng chỉ mong sao như Võ Tấn Cường cũng đã nói là những tác giả tự làm cho thơ của mình có tầm tư tưởng khái quát hơn sâu sắc hơn.

Riêng phần tôi khi đọc một số tác giả qua Blog thì tôi có một cảm nhận là nhiều tác giả sáng tác kiểu amateur chứ chưa ý thức thật nghiêm túc trước tác phẩm của mình. Chúng ta đều biết "văn chương đâu phải chuyện đùa" nhà thơ là người thợ chắt lọc ngôn từ để biểu lộ "tình" "hồn" qua thiên nhiên và cảnh vật. Mỗi bài thơ của mỗi tác giả đều có "mật mã" riêng của mình chỉ khi nào nhà phê bình giải đúng mã thì mới có thể nói chính xác bài thơ đó thế nào còn nếu không chỉ có thể đúng ở một chiều nào đó mà thôi.

Trong một lần tâm sự về làm thơ với tôi nhà thơ Vũ Quần Phương Chủ tịch Hội đồng thơ - Hội nhà văn Việt Nam đã nói đại ý: không nên công bố bài thơ ít nhất ba tháng sau khi làm trong thời gian đó phải đọc đi đọc lại và sửa chữa. Còn nhà văn Lê Văn Thảo - Phó chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam thì nói có những truyện ký viết xong đọc sửa hàng chục thậm chí cả trăm lần... Điều đó chứng tỏ là dù tài năng đến đâu thì việc sáng tác thơ văn cũng phải rất nghiêm túc. Nếu ai nói làm thơ để chơi hay đọc giao lưu cho vui thì có lẽ theo tôi họ không thể trở thành "nhà" hay "lều" "quán" thơ được.

Trong một lần ra Hà Nội khi nói chuyện với Xuân Anh người thường xuyên tổ chức mục CLB thơ Việt Nam trên VTV1 anh nói với tôi. "Em thấy hình như thơ của các bác ở miền Nam không hay lắm"… Tôi giật mình và thoáng buồn về nhận định đó. Theo tôi đội ngũ tác giả thơ của đồng bằng sông Cửu Long hiện nay không ít trình độ học vấn và hiểu biết không hề thua kém các vùng miền khác. Các tác phẩm của họ khá phong phú và cũng có nhiều bài hay có vị trí xứng đáng trong nền thơ của đất nước. Những việc truyền bá và giới thiệu phê bình trên văn đàn trên hệ thống thông tin đại chúng (đài phát thanh truyền hình...) còn quá ít ngay cả ở địa phương còn nếu nói ở Trung ương thì kể như là số không. Những người có trách nhiệm ở các tỉnh tuy có một số nơi đã tập hợp in ấn thành tập thành quyển nhưng rồi sau đó xếp vào thư viện vào tủ sách gia đình cơ quan... còn việc quảng bá thì ngoài một số nơi tổ chức được một buổi tọa đàm nội bộ là giỏi lắm rồi. Các tờ báo văn nghệ ở các tỉnh thành phố thì in xong gởi biếu thế là xong không hội thảo không liên kết với cơ quan thông tin khác để quảng bá giới thiệu suốt hơn chục năm nay chỉ có một lần Hội nhà văn tổ chức được một buổi tọa đàm bàn tròn về văn xuôi ở Tiền Giang. Năm 2008 định làm tiếp nhưng rồi lại tạm hoãn vì không tiền... Trong khi hàng chục năm nay VTV1 một tháng 2 kỳ câu lạc bộ thơ giới thiệu tác giả tác phẩm cả 45 phút vậy mà chỉ duy nhất có một lần 1 tác giả ở Tiền Giang có mặt do sự may mắn ra Hà Nội học quen biết mà lên hình trong khi hầu như các tác giả làm thơ ở ngoài Bắc (kể cả người làm thơ "cho vui") đã đều có mặt trong chương trình. Vậy thì làm sao họ biết "thơ của các bác trong Nam" hay hay dở đây? Lại nữa chương trình văn hóa nghệ thuật của VTV1 cũng 1 tháng 2 kỳ cả chục năm nay mà không thấy bóng dáng tác giả nào của đồng bằng sông Cửu Long trên đó.

Dù vẫn biết "hữu xạ tự nhiên hương" nhưng nếu không có gió thì sao hương bay xa và hương không bay sao nhiều người biết thơm?

Ai sẽ làm cho hương sắc thơ đồng bằng sông Cửu Long bay xa? Không ai khác là các Hội văn nghệ các tỉnh và xa hơn nữa là Chi hội nhà văn Việt Nam tại đồng bằng sông Cửu Long và Hội nhà văn Việt Nam. Và cả chúng ta các nhà thơ của miền phù sa Nam bộ không chỉ mở tầm rộng hơn sâu hơn triết lý hơn trong tác phẩm của mình. Mà còn cần phải chuyên nghiệp hơn trong thơ của mình đồng thời cũng phải tìm cách thể hiện thơ mình trước công chúng qua các văn đàn các hệ thống thông tin...

Cũng không thể bắt các nhà thơ các tác giả phải thay đổi phong cách riêng của mình vì đó là bản chất là cái riêng trời sinh trời phú cho họ nhưng chúng ta cũng mong rằng họ hãy vượt qua chính họ để tác phẩm của họ vạm vỡ hơn hoành tráng hơn sắc sảo hơn tầm bao quát xa hơn tuy rằng vẫn mang phong cách vùng miền của mình. Mong rằng từ vùng trời đất mênh mang sông nước trù phú những con người tự do hào phóng lạc quan yêu đời và bộc trực với trình độ học vấn cao sẽ sinh ra những câu thơ bài thơ tập thơ đầy ắp hào khí phương Nam và đưa chúng lên văn đàn thông tin đại chúng đóng góp xứng đáng vào nền văn học nói chung và nền thơ (nói riêng) của đất nước Việt Nam.

Tháng 12 năm 2008

 

More...

Nhận diện thơ Đồng bằng sông Cửu Long- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường

Normal 0


Xác định danh tính và vị thế của nhà thơ không thể dựa vào không gian địa lý và vị trí xã hội của nhà thơ. Ý thức về cái tôi ý thức về thẩm mỹ và tư tưởng cùng với sự chế tác ngôn từ qui định tầm vóc của nhà thơ. Theo tôi không nên xác định nhà thơ Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hoặc thơ ĐBSCL… Người ta có thể định danh cho một loại trái cây dựa vào tên của một vùng đất thế nhưng không thể định danh cho nhà thơ hoặc một nhóm nhà thơ dựa vào một vùng đất. Bởi lẽ dù sinh ra và sống gắn bó máu thịt  với một vùng đất trong mỗi nhà thơ đều hàm chứa phẩm chất của nhân loại và con người nói chung.

 

Theo tôi ở ĐBSCL chỉ có những nhà thơ với những phong cách thơ cụ thể chứ chưa định hình một khuynh hướng một trào lưu hoặc một phong trào thi ca. Thơ của các tác giả ĐBSCL không bị sa vào hũ nút tăm tối và bí hiểm. Tuy nhiên cái thiếu của thơ ĐBSCL chính là ý thức triết học và ý thức thẩm mỹ của các nhà thơ. Nhiều bài thơ hao hao như một đoạn nói lối trong bài ca cổ. Tính ước lệ cảm xúc uỷ mị và cái đẹp phổ biến xuất hiện trong nhiều bài thơ của các tác giả ĐBSCL. Phạm trù biên độ thẩm mỹ qúa hẹp nên thi ca chỉ quanh quẩn với cái đẹp ước lệ sáo mòn. Chiều sâu thẳm của cái tôi trữ tình chưa được khai thác đào sâu. Mối giao hòa giữa tâm thế nhà thơ và hiện thực xã hội cũng chưa được khai thác đúng mức.

 

Thơ ĐBSCL chưa tạo được một trào lưu khuynh hướng và chưa xuất hiện nhiều phong cách thơ độc đáo. Một số nhà thơ đã tạo được phong cách thơ độc đáo có thể kể đến như: Lê Chí với những bài thơ giàu chất suy tư mang tính thế sự và ngôn ngữ thơ tự do khỏe khoắn co duỗi linh hoạt; La Quốc Tiến với tư duy thơ vạm vỡ giàu tính nhân văn hướng về vẻ đẹp của đời thường; Phạm Hữu Quang với tư duy thơ mê đắm và phóng khoáng; Lê Ái Siêm với tư duy thơ giàu tính trữ tình sâu lắng hòa quyện với tính triết luận của tư duy thơ hiện đại; Kim Ba với những bài thơ mang vẻ đẹp tâm linh của con người vùng ĐBSCL với bao trăn trở suy tư trước biến động của thời đại; Vũ Hồng với những bài thơ mang vẻ đẹp hào phóng sâu lắng của tâm hồn con người và vùng đất Nam Bộ; Huỳnh Thúy Kiều với hồn thơ mê đắm phóng khoáng và trữ lượng thơ mạnh mẽ dồi dào thể hiện mối giao hòa gắn bó máu thịt giữa hồn người và hồn đất vùng ĐBSCL; Vương Huy với những bài thơ hướng về cái đẹp trong cõi siêu hình nhưng vẫn đau đáu nỗi niềm nhân thế…vv…Điểm danh đội ngũ sáng tác thơ ở ĐBSCL có thể kể đến các nhà thơ tác giả thơ như: Lê Hà Trịnh Bửu Hoài Song Hảo Đinh Thị Thu Vân Nguyễn Lập Em Thai Sắc; Trần Ngọc Hưởng Thanh Vũ Cao Thoại Châu Hồ Thanh Điền Lê Hoàng Dũng Lá Me Trần Công Tùng Trần Thị Ngọc Hồng Trần Đỗ Liêm Phạm Nguyên Thạch Trần Hữu Nghiễm Tô Nhược Châu Lâm Tẻn Cuôi Cát Hoàng Trần Thế Vinh Lê Thanh My Hữu Nhân Trần Công Tạo Huỳnh Kim Phạm Chí Nguyễn Chi Nguyễn Thạnh Vũ Tuấn Phạm Bội Anh Thuyên Tuấn Khanh Trương Công Thuốt Nguyễn Đăng Khương Võ Mạnh Hảo Trương Trọng Nghĩa..vv…

 

Hầu như ở ĐBSCL chưa tạo được một diễn đàn văn học hoặc diễn đàn thơ nghiêm túc. Các nhà thơ gặp nhau chủ yếu để tán gẫu kể chuyện giai thoại và bù khú nên chai rượu chứ không phải để tranh luận đối thoại về thi ca hoặc tư tưởng. Sự biệt lập về ý thức thẩm mỹ và tư tưởng khiến các nhà thơ ĐBSCL thiếu sự đào luyện trui rèn về phong cách sáng tạo và ý thức thẩm mỹ. Đây là một trong những nguyên nhân sâu sa khiến thơ vùng ĐBSCL có vẻ lạc lõng chưa hòa nhập với thi ca hiện đại của dân tộc. Các nhà thơ ĐBSCL cần đào luyện và tạo dựng một hệ thống ý thức triết học quan niệm sáng tác và quan niệm thẩm mỹ riêng. Quan niệm thẩm mỹ trong ca nhạc tài tử và vọng cổ không thể vận dụng vào thi ca bởi vì cái ước lệ và uỷ mị có nguy cơ tổn hại đến cái đẹp của thi ca. Sự phóng khoáng chịu chơi và hào hiệp của con người tài tử Nam Bộ chỉ là chất liệu của bài thơ chứ không thể hình thành nên tính cách và tầm vóc tư tưởng của nhà thơ. Theo tôi các nhà thơ ĐBSCL cần mở rộng không gian sáng tạo hướng cảm hứng và tư tưởng đến các trào lưu trường phái thơ như: ấn tượng tượng trưng siêu thực hậu hiện đại tân hình thức để khai thác thủ pháp sáng tạo nhằm tạo dựng những phong cách thi ca độc đáo.

 

 


 

More...

Đi tìm "chân dung" truyện ngắn ĐBSCL- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường

 

Đồng bằng sông Cửu Long ( ĐBSCL) là vùng đất hội nhập nhiều luồng văn hóa Đông - Tây khác nhau nên cốt cách con người và nghệ thuật hấp thu được những sắc thái và "linh khí" của văn hóa các dân tộc. Truyện ngắn ĐBSCL có diện mạo riêng với những phong cách nghệ thuật mang đậm nét đặc điểm của truyện ngắn truyền thống. Đọc truyện ngắn ĐBSCL người thưởng ngoạn nhận ra nét độc đáo của tính cách con người và bản sắc văn hóa của một vùng đất. Tôi cảm thụ khám phá truyện ngắn ĐBSCL theo cái nhìn cảm xúc của người thưởng ngoạn. Ở đây sự tiếp nhận của tôi chủ yếu hướng đến ý thức tự phê phán thức tỉnh đề tìm ra "chân dung" của truyện ngắn ĐBSCL" và hướng đến con đường của truyện ngắn hiện đại.

Nhìn ở góc độ đề tài và nội dung chủ đề người đọc cảm thụ được sự đa dạng và phong phú của truyện ngắn ĐBSCL. Tuy nhiên nhìn ở góc độ tiếp nhận tôi chú ý đến cách xây dựng tính cách nhân vật nhịp điệu của truyện ngắn và ngôn ngữ giọng điệu của nhà văn trong các truyện ngắn ĐBSCL. 

Phác thảo chân dung truyện ngắn ĐBSCL tôi khám phá những phong cách nghệ thuật theo góc độ của người tiếp nhận. Tôi nhận ra một Trang Thế Hy "vạm vỡ" và thâm hậu với những truyện ngắn viết về vẻ đẹp tài tử của con người Nam Bộ. Ông có tài trong việc khắc họa vẻ đẹp của tâm hồn nghệ sĩ ẩn hiện trong tính cách của những con người vô danh giữa đời thường. Tôi phát hiện một Trầm Quỳnh Dân (Lê Đình Bích) với những truyện ngắn giàu tính biểu tượng ẩn dụ thấp thoáng bóng dáng của truyện ngắn hiện đại. Một Hồ Tĩnh Tâm với bút lực dồi dào với những truyện ngắn viết về những số phận chìm nổi mang đậm tính cách phóng khoáng "chịu chơi" hào hiệp và giàu nghĩa tình của người Nam Bộ. Một Lê Đình Trường khúc chiết tài hoa về ngôn ngữ và sâu sắc trong việc thể hiện chiều sâu thẳm tâm hồn nhân vật. Tôi cảm thụ được một Vũ Hồng với giọng văn vừa phóng khoáng vừa thâm trầm vói những truyện ngắn viết về sự giao hòa và mâu thuẫn trong lối sống tâm lý giữa các thế hệ con người vùng Nam Bộ. Một Thu Trang tinh tế và giàu tính trữ tình trong việc miêu tả những ngõ ngách tâm hồn của con người. Tôi cảm nhận được vẻ đẹp của truyện ngắn truyền thống trong các tác phẩm của các nhà văn tác giả như: Lương Hiệu Vui Phạm Trung Khâu Ngô Khắc Tài Đoàn Văn Đạt Nguyên Tùng Hàn Vĩnh Nguyên Hào Vũ Anh Đào Nguyễn Thanh Nguyễn Khai Phong Phạm Thị Ngọc Điệp Nguyễn Ngọc Tư…vv…..

 Những đổi thay biến đổi dồn dập của các trường phái trào lưu văn xuôi trên thế giới có vẻ ít ảnh hưởng đến cảm thức cá nhân và phong cách sáng tạo của các nhà văn ĐBSCL. Đối với truyện ngắn hiện đại nhà văn và người đọc không chỉ chú ý đến việc viết về "cái gì" mà quan trọng là viết "như thế nào". Viết "như thế nào" thể hiện nét độc đáo và tầm vóc của từng nhà văn. Đọc hàng trăm truyện ngắn ĐBSCL trên các báo tạp chí và tuyển tập tôi nhận ra sự "đóng băng" trong việc miêu tả tâm lý tính cách nhân vật của một số tác giả. Đối với nhân vật trong truyện ngắn nhà văn không phải tạo dựng tính cách nhân vật theo những kiểu tính cách định sẵn mà phải là sự kiếm tìm và sáng tạo những tính cách đang manh nha chưa thật định hình nhưng mang tính xu hướng của thời đại. Thời hiện đại tính cách con người đa diện và phức tạp chứ đâu chỉ có những nét tính cách phóng khoáng hào hiệp và giàu tình nghĩa. Truyện ngắn ĐBSCL chưa có nhiều tác phẩm tạo dựng được những điển hình nhân vật có tầm nhìn có khả năng ý thức về cái tôi của con người trong mối quan hệ với cuộc đời và vũ trụ. Các nhà văn chưa đào sâu vào miền bí ẩn của tâm linh con người với những xung đột giữa cái thiện và cái ác giữa cao thượng và thấp hèn. Nhiều truyện ngắn miêu tả hiện thực sống sượng theo kiểu bút ký thiếu sự chiêm nghiệm và thăng hoa về cảm xúc phong cách thể hiện. Các nhà văn ĐBSCL chưa xây dựng được những nhân vật có tính cách tầm vóc ngang tầm hoặc cao hơn những mẫu người trong cuộc sống. Hầu hết truyện ngắn ĐBSCL đều viết theo lối kể chuyện truyền thống nhịp điệu và mạch truyện chậm thiếu độ căng về cấu trúc. Ngôn ngữ kể chuyện trong nhiều truyện ngắn pha tạp nhiều khẩu ngữ thiếu sự gọt giũa chắt lọc và thiếu sự lao động nghệ thuật công phu. Nhịp điệu và giọng điệu của nhà văn chưa được chú ý khai thác nên chưa tạo được diện mạo nét dộc đáo riêng. Các nhà văn ĐBSCL chưa tạo được sự đột biến về phong cách sáng tạo với sự nhảy vọt vượt qua phong cách của lớp nhà văn đầu thế kỷ XX. Tôi có cảm giác văn xuôi ĐBSCL chưa có những đỉnh núi cao mà chỉ có những miền nhấp nhô tiếp nối những vùng đất văn học của các bậc tiền bối. Nếu không kể đến sự khác biệt về đề tài chủ đề và tư duy của mỗi thời đại người đọc có thể nhận thấy phong cách kể truyện của một số nhà văn ĐBSCL chưa có sự cách tân triệt để so với các nhà văn Nam Bộ đầu thế kỷ XX. Tôi cảm nhận cách kể chuyện của Ngô Khắc Tài và Bình Nguyên Lộc Lương Hiệu Vui và Lê Vĩnh Hòa Nguyễn Ngọc Tư và Phi Vân chưa có sự cách biệt và chưa tạo được những khoảng cách nhảy vọt về nghệ thuật xây dưng truyện ngắn.

 Tôi ý thức rằng một số nhà văn ĐBSCL chưa có sự tiếp nhận phát kiến mới về mỹ học của truyện ngắn hiện đại. Đây chính là hạn chế khiến các nhà văn chưa sáng tạo được các truyện ngắn mang tầm vóc nghệ thuật và hơi thở của thời đại. Ở một vùng đất mà cái "gu" thẩm mỹ của đa số người đọc bị chi phối bởi chuẩn mực cái đẹp của ca nhạc tài tử và cải lương thì việc khai phá tiếp nhận chuẩn mực thẩm mỹ mới đòi hỏi các nhà văn phải có bản lĩnh và sự dũng cảm.Tôi nhận thấy phẩm hạnh nghệ thuật và tầm vóc của các nhà văn không chỉ là thể hiện sâu sắc không khí nhịp điệu của thời đại tính cách đa diện của con người hiện đại mà còn là sự sáng tạo về nghệ thuật truyện ngắn và tạo dựng những chuẩn mực thẩm mỹ mới tiêu biểu cho thời đại.

 

Phác thảo chân dung truyện ngắn ĐBSCL tôi cảm nhận được sự đa sắc đa giọng của các nhà văn và cảm nhận được những tính cách con người sắc màu văn hóa của một vùng đất. Tuy nhiên so với nhu cầu của thời đại các nhà văn ĐBSCL cần có sự cách tân triệt để về bút pháp thể hiện để hòa nhập với trào lưu sáng tạo của các nhà văn cả nước và cùng hướng về con đường của truyện ngắn hiện đại.

 

More...

Phê bình thơ và con đường cô độc- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường




Không có nỗi cô độc nào giống như nỗi cô độc của nhà phê bình thơ khi đối diện với bài thơ. Tôi hình dung về nhà phê bình thơ giống như người lữ hành mang trên lưng đủ thứ hành trang nặng nhọc lê bước qua sa mạc chữ và khát khao vươn tới ốc đảo của cái đẹp thi ca...

Người ta thường gán ghép cho nhà phê bình thơ đủ thứ tùy thuộc vào cái nhìn và quan niệm khác nhau của từng người. Có người cho rằng phê bình thơ giống như cái roi ngựa nhà phê bình quất vào con ngựa thi ca (nhà thơ hoặc bài thơ) để nó lồng lên phi nước đại hướng tới chân trời thi ca. Người khác lại cho rằng phê bình thơ phải là sự tri âm giao cảm giữa nhà phê bình và nhà thơ. Đối với kiểu phê bình "roi ngựa" nhà phê bình thơ cảm thụ đánh giá bài thơ thông qua hệ thống lý luận có sẵn. Phê bình thơ theo kiểu này chẳng khác gì dùng nơm úp cá đi săn tìm vầng trăng đáy biển. Kiểu phê bình thơ "tri âm" khiến nhà phê bình thơ hướng về sự giao cảm đồng điệu nhưng thường bỏ sót những phong cách hồn thơ độc đáo dị biệt nằm ngoài tầm tư duy cảm thụ của nhà phê bình thơ. Hệ qủa của kiểu phê bình thơ "tri âm" dễ dẫn đến sự ve vuốt tâng bốc vốn là những điều xa lạ với nhân cách và tư duy của những nhà phê bình thơ chân chính.

Đối với tôi phê bình thơ giống như viết một bài thơ bằng văn xuôi mà đối tượng chính là bài thơ. Nhà phê bình thơ phải thấu triệt chiêm cảm thế giới bí ẩn lung linh của bài thơ. Anh ta còn phải khám phá cơ chế sáng tạo của nhà thơ diễn ra như thế nào. Nhà phê bình thơ phải chiêm cảm được nỗi đau "sinh nở" của nhà thơ trong suốt qúa trình thai nghén cho đến khi hoàn thiện tác phẩm. Đối với nhà phê bình thơ nhà thơ và bài thơ chỉ là đối tượng là  chất liệu để anh ta hướng về cái đích của thi ca và tạo dựng thế giới hình tượng của bài phê bình.

Nhà phê bình thơ khám phá thế giới bí ẩn của bài thơ và tâm hồn nhà thơ bằng trực giác và cái nhìn thấu thị. Anh ta là người cô độc trên hành trình khám phá chính mình và khám phá cái đẹp của bài thơ. Nhà phê bình thơ không thể dùng hệ thống thuật ngữ để tái hiện diễn tả hình tượng mơ hồ đa nghĩa của bài thơ. Anh ta phải là người phát kiến chiêm nghiệm về cái được biểu đạt tiềm ẩn phía sau ngôn từ thi ca và những khoảng lặng âm vang giữa các câu chữ của bài thơ.

Nhà phê bình thơ trong mối quan hệ với bài thơ và người đọc giống như cột thu lôi thu nhận dòng điện thi ca trong bài thơ thể hiện trong bài phê bình và truyền vào tâm hồn người đọc. Thông qua bài phê bình thơ nhà phê bình phải tạo được xung động thẩm mỹ và mở rộng biên độ tình cảm tư tưởng của bạn đọc. Sự khám phá của nhà phê bình thơ chỉ là tiền đề cho những khám phá bất tận của bạn đọc. Nhà phê bình thơ không có tham vọng thấu triệt tận cùng thế giới bí ẩn của bài thơ...

Nhà phê bình thơ phải là người có tâm hồn thi ca. Điều này tưởng như đơn giản nhưng không phải nhà phê bình thơ nào cũng có và cũng tự nhận biết.  Nỗi đam mê tâm hồn say đắm với thi ca và trực giác bén nhạy là hành trang cần thiết của nhà phê bình thơ trong cuộc hành hương đến với cái đẹp và ngôi đền thi ca. Giống như cuộc chạy tiếp sức nhà phê bình thơ bắt đầu từ bài thơ và cơ chế sáng tạo của nhà thơ để độc hành đến thế giới của cái đẹp và chân trời thi ca.

More...