Câu thơ tuôn trào từ trí nhớ

By Võ Tấn Cường



 

Sẽ trống không cả trời cao

Nếu mặt đất chẳng nơi nào có em.

(V.T.C)

10 trưa ngày 17-6 tôi điện thoại trò chuyện cùng nhà thơ Nguyễn Thạnh (TPHCM). Nói đủ chuyện vu vơ chủ yếu liên quan đến thơ và tính nhân loại trong thơ. Nhà thơ Nguyễn Thạnh là một trong những nhà thơ Việt Nam đương đại hiếm hoi có tư duy thơ hướng đến mối tương quan giữa thế giới nội tâm của con người và chiều kích của vũ trụ. Nguyễn Thạnh bảo: "Nếu như có một cuộc hội thảo về thơ mang tầm trái đất ông sẽ chọn những bài thơ câu thơ nào để đọc?". Tôi bảo: "Tất nhiên phải là những bài thơ ẩn chứa tính nhân bản và tính nhân loại...". Nguyễn Thạnh bảo: "Tôi sẽ đọc một số câu của các nhà thơ.....Nếu chọn thơ của ông tôi sẽ đọc hai câu thơ: "Sẽ trống không cả trời cao. Nếu mặt đất chẳng nơi nào có em.". Tôi ngớ cả người. Thơ của tôi đấy ư? Đúng vậy. Nhưng thú thật tôi không nhớ hai câu thơ đó trích từ bài thơ nào cả. Tôi đã lãng quên đứa con tinh thần của mình. Thế nhưng hai câu thơ đó lại sống trong trí nhớ của nhà thơ Nguyễn Thạnh. Thật lạ! Bỗng nhận ra mỗi bài thơ có số phận và sức sống riêng dù người sinh ra nó lãng quên hay từ bỏ nó...

More...

Thơ đồng bằng sông Cửu Long năm 2009: nhìn lại và suy ngẫm- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường


Các tác giả thơ ĐBSCL sinh hoạt thơ tại vườn thơ Hoa Mai thành phố Mỹ Tho


Nhà thơ Thái Hồng


 

Những ngày cuối năm đọc lại các bài thơ của các nhà thơ vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trên các website và các tập thơ tôi chợt ngẫm nghĩ về tính cách thế giới tâm hồn và khát vọng sống của con người ở một vùng đất giàu tiềm năng văn hóa và kinh tế. Tôi chợt nhớ lại cách đây mấy năm trong một lần đi đò trên sông nước sông Tiền nhà văn Nguyên Ngọc chia sẻ: "Nam Bộ là vùng đất mới giàu chất liệu nghệ thuật để các nhà văn sáng tác thành tiểu thuyết...". Không nghe nhà văn Nguyên Ngọc nói về tiềm năng và chất liệu thi ca của vùng ĐBSCL. Tôi chợt ngẫm nghĩ: Tính cách con người vùng ĐBSCL vốn hào phóng giàu nghĩa tình và giàu tính khí khái...Đây chính là "mảnh đất" phì nhiêu để những hạt mầm thi ca sinh sôi nảy nở. Bao năm qua theo dõi sự xuất hiện và công việc sáng tạo của các nhà thơ các tác giả thơ vùng ĐBSCL tôi cảm nhận được sức sống mãnh liệt của thi ca trong tâm hồn con người và vẻ đẹp tính cách con người của một vùng đất được thể hiện qua các tác phẩm thi ca.

Sự sáng tạo thi ca mang tính tự thân hướng về thế giới của cái đẹp và tình thương bất chấp sự khác biệt về khoảng cách giữa các thế hệ lứa tuổi và không gian địa lý văn hóa. Thi ca của các nhà thơ vùng ĐBSCL hội tụ các thế hệ nhà thơ và chất chứa nỗi niềm thế giới tâm hồn và khát vọng sống của con người vùng ĐBSCL. Cuối năm 2009 có một sự kiện thi ca được sự quan tâm của người yêu thơ đó là: tập thơ "đầu tay" "Đắng & Ngọt" của nhà văn Trang Thế Hy do NXB Thanh Niên ấn hành. Nhà thơ U80 sống ẩn dật ở một vùng quê tỉnh Bến Tre đã sáng tác nhiều bài thơ mang tính triết lý về thân phận con người cái đẹp và mối quan hệ tinh tế đắm say của tình yêu đôi lứa:

"Nỗi nhớ nhung

từ trái tim

chảy tràn xuống trang giấy thành thơ.

Nàng ngỡ đó là định lí nên thích lưu đày chàng

thật lâu trong cõi nhớ để gặt được nhiều thơ

nói về nàng."

(Định lí và định lí)

Cuối năm 2009 có hai nhà thơ nữ vùng ĐBSCL đoạt giải thưởng của Ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam. Đó là nhà thơ Thái Hồng (tỉnh Vĩnh Long) đoạt giải C với tập thơ: "Ngày của chiêm bao" và nhà thơ Huỳnh Thúy Kiều (tỉnh Cà Mau) đoạt giải thưởng dành cho tác giả trẻ với tập thơ "Kiều mây". Đây là hai nhà thơ nữ đã tạo được sự độc đáo của phong cách thi ca và tạo ấn tượng với người yêu thơ. Nhà thơ Thái Hồng có nhiều bài thơ có sự pha trộn giữa tính triết lý trong quan hệ tình yêu đôi lứa và tính thế sự trong các mối quan hệ giữa con người và xã hội. Thơ của Thái Hồng giàu tính chiêm nghiệm sâu sắc về tư duy và mạnh mẽ về cảm xúc thẩm mỹ:

Dù chỉ một lần ta chính ta khoảnh khắc

Hoa mặt trời vàng cháy trong đêm tròn một giấc mê"

(Hoa mặt trời vàng cháy trong đêm)

Thơ của Huỳnh Thúy Kiều giàu tính ẩn dụ hình tượng thơ biến ảo lung linh và ngôn ngữ thơ biến hóa giàu tính biểu cảm. Thơ của Huỳnh Thúy Kiều thường khắc họa vẻ đẹp tiềm tàng và sức sống mãnh liệt của sự vật thiên nhiên và con người vùng ĐBSCL:

"Ngẫu hứng chín dòng sông tiếng gà rải giọng tha phương  
Máu Cửu Long đỏ quặn lòng chảy mềm dấu chân chim mắt mẹ  
Những mái nhà thức giấc  
Bóng dừa cỗi cằn sau cơn sấm vụt bừng xanh ..."

(Ngẫu hứng chín dòng sông)

Vùng ĐBSCL là vùng đất trẻ và sự sáng tạo thi ca cũng đòi hỏi sức trẻ của tư duy và sự tươi rói mạnh mẽ của cảm xúc sáng tạo. Các nhà thơ thế hệ thời chống Mỹ đã làm xong sứ mệnh thi ca của họ đối với dân tộc. Các nhà thơ trẻ thì thế nào? Các nhà thơ trẻ có nhiều con đường để lựa chọn và đối với họ nhiều khi thi ca chỉ là một cuộc chơi tinh thần. Ngẫm nghĩ về thi ca của vùng ĐBSCL tôi tin và hy vọng vào các tác giả trẻ hiện đang sinh sống và làm việc tại ĐBSCL. Họ là những tác giả vừa mang tính cách tâm hồn của con người vùng ĐBSCL vừa mang khát vọng sáng tạo thi ca của nhân loại. Lực lượng sáng tác thơ trẻ vùng ĐBSCL có thể kể đến các tác giả như: Vương Huy Huỳnh Thúy Kiều Trương Trọng Nghĩa Võ Mạnh Hảo Nguyễn Đăng Khương Vũ Tuấn Nguyễn Quốc Đạt Nguyễn Ngọc Minh Châu Nguyễn Trung Nguyên...vv...Những mùa hoa trái thi ca của vùng ĐBSCL vẫn ở phía trước và đang chờ sự bứt phá sáng tạo của các nhà thơ trẻ.


Tháng 12-2009

More...

Văn sĩ miền Tây- Nguyễn Hữu Hồng Minh

By Võ Tấn Cường

 

Lời mở đầu: Trưa thứ bảy (08-08-2009) tôi đang lang thang trên đường phố Sài Gòn thì nhận điện thoại của nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh báo tin vừa giới thiệu bài đầu tiên trong loạt bài về văn sĩ miền Tây trên tờ Văn Hóa Thể Thao cuối tuần. Đọc báo cảm nhận được tấm lòng và sự chia sẻ của nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh đối với văn sĩ ĐBSCL. Xin giới thiệu cùng cộng đồng VNWEBLOGS.COM

 

Phải là kẻ đi nhiều mới nhận ra phương Nam hào sảng bát ngát còn vươn ngược lên miền Đông trải rộng xuống miền Tây chứ đâu chịu dừng ở Sài Gòn. Văn chương Nam bộ nhìn từ phía nào đó có đóng góp rất lớn từ văn nghệ miền Tây.

Các tên tuổi lớn xuyên suốt nhiều thế hệ và nhiều lĩnh vực từ Hồ Biểu Chánh Phạm Công Thiện Đoàn Giỏi đến Sơn Nam Nguyễn Sáng Kiên Giang... đều là những anh tài xuất phát từ những lưu vực ven dòng Cửu Long. Trong một cuốn sách văn chương gần đây có đặt ra một câu hỏi thống kê khá thú vị: có bao nhiêu nhà văn có thể gọi là Sài Gòn gốc? Câu trả lời là hình như chỉ có một người: nhà văn nhà nghiên cứu Nhật Chiêu! Nhưng trong dòng văn học hiện đại hôm nay chưa bao giờ có một lực lượng sáng tác viết văn hùng hậu và ưu thế như ở đây. Đó là những giọng văn đáng nể trên văn đàn cả nước như Nguyễn Ngọc Tư (Cà Mau) Phạm Trung Khâu (Vĩnh Long) Nguyễn Thị Diệp Mai (Kiên Giang) Kim Ba (Bến Tre) Vương Huy (Cai Lậy) Võ Đắc Danh (Cà Mau) Phan Trung Nghĩa (Bạc Liêu)...

Tôi nghe và biết đến tên tuổi nhà thơ Đinh Thị Thu Vân từ rất lâu. Và tôi cũng ghé qua thị xã Tân An - Long An tìm chị hai lần nhưng chưa gặp. Các bạn trẻ đang yêu không ai không biết những câu thơ:“Mặt đất còn chông gai/ Bầu trời còn bão tố/ Khi nào anh đau khổ/ Hãy tìm đến với em”. Hiếm có giọng thơ tình nào đắm đuối và cháy bỏng như thế. Long An vùng đất hiền lành chặng đầu của Sài Gòn trôi về miền Tây cũng là nơi xuất phát của nhiều cây bút thơ truyện ngắn như Lê Đỗ Quỳnh Hương Nguyễn Hữu Huy Nhựt... nổi lên thời sinh viên nhưng sau đó rẽ ngang làm những nghề khác. Đây cũng là nơi cưu mang nhiều nhà văn đất Bắc thành danh sau năm 1975 như Hào Vũ Chu Hồng Hải. Thời học cấp hai tôi có đọc truyện dài Một mùa Hè của nhà văn Chu Hồng Hải. Đây là một tác phẩm viết cho thiếu nhi sinh động và hấp dẫn về chiến dịch kế hoạch nhỏ ở nhà và ở trường. Đáng tiếc bây giờ là một thời khác những cuốn sách như thế khó tìm thấy ở nhà sách.

Hội văn nghệ Bến Tre nổi tiếng hào phóng uống khá dữ và lại mến khách. Lần nào ghé qua tôi cũng được các anh “ưu đãi” cho một phòng nghỉ ở khách sạn thuộc loại sang mà ông chủ cũng là một người tập tành làm nhà thơ. Vậy là bị vây bủa bốn phía thơ là thơ. Uống từ sáng tới chiều. Ra thơ. Vào thơ. Về khách sạn cũng lại gặp nhà thơ.

Tôi với Vũ Hồng là chỗ anh em bạn bè khá thân. Anh học chung trường trên tôi vài khóa mà tính khí lại trẻ trung. Khởi đầu Vũ Hồng làm thơ chứ chưa viết truyện ngắn. Anh có tập thơ Người phương Nam khá sắc. Người phương Nam ngày xưa áo tơi/ Dòng Hàm giang cuộn sóng không lời/ Đêm sâu đối ẩm tràn chung rượu/ Rượu say tim bốc đến tận trời. Sau này Vũ Hồng viết truyện ngắn và được xem như một trong những cây viết văn xuôi miền Tây cá tính. Tuy nhiên tôi cứ ghim trong tim những câu thơ Người phương Nam say thì say trọn/ Người phương Nam buồn thì buồn sâu. Lại còn chuyện nhà thơ Bùi Chí Vinh ăn mắt kiếng của Vũ Hồng thì giới văn sĩ Bến Tre ai cũng biết. Bùi Chí Vinh làm thơ tài hoa nhưng cũng “du côn” “đầu gấu” khét tiếng Sài Gòn. Anh có tài khi say là ăn mảnh chai kim loại nói chung là tất tần tật mọi thứ cho hết vào miệng nhai trệu trạo và nuốt tọt xuống bụng. Cũng vì trò này mà thiên hạ sợ Vinh phát khiếp. Trong một lần cao hứng bị thách thức anh nhai luôn cặp kiếng Vũ Hồng rào rạo!

Ở Bến Tre có một “người hiền” đáng kính nể là nhà văn Trang Thế Hy. Một nhân sĩ một nhân cách trong đời sống ở ông còn hiển hiện là một phong cách văn chương. Từ Sài Gòn cách đây khoảng chục năm nhà văn tuyên bố “đi chỗ khác chơi” và trở về Bến Tre quê hương để sống và viết trong những năm tháng cuối đời. Ông cho Sài Gòn là phố thị ồn ã bon chen cạnh tranh vốn không còn hạp với những người tuổi già như ông. Nhưng tôi lại nghĩ khác. Ông còn quá nhiều việc để làm khi quỹ thời gian không còn bao nhiêu nữa. Ông muốn cắt đứt hay dẹp lại những “phù phiếm truyện” để dành cho suy nghiệm văn chương.

Trang Thế Hy viết văn khá sớm. Các bài thơ truyện ngắn khá nổi tiếng như Đẹp miền quê ngoại Quán ven đường... từ những thập niên 1960 đã báo hiệu một tài năng. Khác với nhiều cây bút đương thời thường quá chú trọng đến bề mặt sự kiện sự việc như quan tâm thường tình của đa số đông Trang Thế Hy chọn hướng đi riêng chạm sâu vào cõi lòng nhân tình thế thái nỗi mình thế người. Ông nghiêng về thiểu số. Bao giờ cũng thuộc về thiểu số. Vì thế độc giả của ông tuy ít nhưng có học trí thức sành sỏi về tâm lý và sâu bền. Những ai đã đọc ông dư vị theo hoài không quên. Những truyện ngắn như vết thương âm ỉ theo mưa gió cuộc đời năm tháng.

Một cái hay nữa của văn Trang Thế Hy là rút tỉa từ kinh nghiệm cuộc đời sóng gió của ông. Chất ngải đắng sâu cay ấy trong Nợ nước Mắt Tiếng khóc tiếng hát qua bao năm tháng đọc vẫn say lòng. Khi tôi về Bến Tre may mắn là ông vẫn còn khỏe mỗi buổi sáng nhà văn vẫn đạp chiếc xe đạp mi-ni cút kít từ trong vườn ra Hội VHNT Nguyễn Đình Chiểu. Ông muốn gặp gỡ anh em trẻ. Muốn có thêm thông tin. Tuy về miệt vườn nhưng Trang Thế Hy vẫn đội chiếc mũ phớt rất kiêu bạc. Rất Tây.

Trở lại Mỹ Tho qua bên này dòng Hàm Luông người yêu thơ dễ nhớ cái tên La Quốc Tiến Võ Tấn Cường và Trương Trọng Nghĩa... Thời tôi còn phiêu bạt có nhậu chung với La Quốc Tiến mấy lần. Nhà văn “miền Đông” đã mất Nguyễn Đức Thọ sinh thời vẫn gọi anh là “Lục Văn Tiên phà Rạch Miễu” do anh có bài thơ nổi tiếng Lục Vân Tiên thọ nạn giữa rừng và nhà ở bên cạnh bến phà. Bạn bè văn chương qua lại Mỹ Tho - Bến Tre vẫn thường gọi nơi này là “trạm văn”. Anh còn làm nghề “khá thơ” là bỏ mối bánh kẹo trên bến phà. Anh Tiến mất năm 2004 vì ung thư khi thơ đang độ chín. Thơ La Quốc Tiến độc đáo hào sảng. Một tâm hồn tinh tế ẩn trong một tính cách thẳng thắn đôi khi thô bạo vì cực đoan. Yêu ghét trong thơ bộc trực tráng sĩ. Có một giai thoại khá độc đáo mà dân miền Tây hay kể về La Quốc Tiến mà tôi chưa tìm hiểu có thật hay không... đó là hai nhà thơ La Quốc Tiến và nhà thơ Hữu Thỉnh đều là lính xe tăng. Một ông cộng hòa và một ông cộng sản. Khi “vua chiến trường” của Hữu Thỉnh tiến vào Sài Gòn thì cũng là lúc binh đoàn thiết giáp của La Quốc Tiến rã tan tháo chạy. Sau này trong một cuộc nhậu tại Bến Tre Hữu Thỉnh “giáp mặt” La Quốc Tiến. Khi hai ông nói chuyện xưa thì mới nhận ra đã từng “mặt đối mặt” hai chiến tuyến. Lục Vân Tiên thọ nạn giữa rừng là một bài thơ hiện đại khá hay của La Quốc Tiến mà nhiều người vẫn cho rằng mang nhiều tâm sự tự bạch của chính anh. Không có ai/ Cam đoan là không ai hay tin/ Lục Vân Tiên đang thọ nạn giữa rừng/ Để tỏ chút âu lo cho con người trung nghĩa/ Tôi móc gói thuốc ra tôi hút/ Điếu thuốc đen tắt ngóm nửa chừng/ Mẹ nó/ Thuốc dỏm/ Phà vẫn chạy/ máy vẫn nổ/ Sóng vẫn vỗ...”.

Tôi biết Võ Tấn Cường từ năm 1991 khi cùng đoạt giải thưởng văn học Tác phẩm tuổi xanh của báo Tiền Phong cùng rất nhiều người mà giờ đây đang là những tên tuổi chủ lực trên văn đàn như Hoàng Tố Mai Đỗ Hoàng Diệu Ngô Tự Lập Nguyễn Vĩnh Tiến... Võ Tấn Cường được biết đến từ bài Cha chơi cờ trong cuộc thi này. Cha chơi cờ còn lọt vào “con mắt xanh” của hai nhà thơ Trinh Đường và Tế Hanh khiến hai ông đăng đàn bình luận. Từ đầu những năm 1990 viết như thế là bạo. Chỉ là bài thơ thể năm chữ gồm bốn khổ nhưng Cường đã thâu tóm được cái tâm thế nhiễu nhương đầy biến động của thời cuộc:“Cha chơi trận cờ tàn/ Đóng hai phe thắng bại/ Tướng sĩ thiếu đường chạy/ Xe pháo liều chống càn”.

Thế hệ trẻ hơn có thể gọi là Thơ 8X ở Mỹ Tho triển vọng nhất là Trương Trọng Nghĩa đang công tác tại Hội Văn học nghệ thuật Tiền Giang. Anh mày mò thực hiện web thơ trẻ đầu tiên ở Việt Namhttp://www.thotre.com/) để giới thiệu thơ trao đổi thông tin kết nối với bạn bè yêu thi ca ở mọi miền thế giới từ internet.

Văn sĩ miền Tây nhớ về họ trong hồn tôi cứ vọng những ngọn gió dọc bờ Hàm Luông thổi mãi...
 

 

(Theo TTVH)

 

More...

V.T.C trả lời câu hỏi của Phong Điệp

By Võ Tấn Cường

 

V.T.C TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA PHONG ĐIỆP*

 

* Gần đây có một số ý kiến cho rằng không nên tồn tại các Hội văn học nghệ thuật địa phương vì nhiều lý do ví như sự hoạt động kém hiệu quả của nó. Xin anh cho biết ý kiến của mình về vấn đề này?

 Để trả lời câu hỏi này chúng ta nên xem xét lại chức năng của Hội VHNT địa phương như thế nào? Thời gian qua các Hội VHNT địa phương có hoạt động đúng chức năng không? Chức năng của Hội VHNT địa phương thời bao cấp có còn phù hợp với thời kinh tế thị trường hiện nay? Chức năng của Hội VHNT địa phương chính là tập hợp đội ngũ văn nghệ sĩ nhằm hướng tác phẩm sáng tác theo đường lối chủ trương của Đảng nhà nước và nhằm phục vụ nhu cầu thưởng thức văn học nghệ thuật của quần chúng nhân dân. Trong thực tế hoạt động của các Hội VHNT địa phương chủ yếu chỉ tập trung vào việc trao đổi sinh họat giữa hội viên với nhau đi thực tế sáng tác in tạp chí tổ chức biểu diễn triển lãm và hội họp…Hầu hết các tạp chí của các Hội in ấn phát hành chỉ để tặng chi phí được cấp từ nguồn ngân sách các cuộc triển lãm biểu diễn tốn kém nhiều tiền của nhưng sức tác động lan tỏa đối với đời sống tinh thần của người dân rất thấp hầu như khó đánh giá được hiệu qủa. Nhiều cán bộ Hội được hưởng lương nhà nước như công chức nhưng lại không lo công việc quản lý tổ chức hoạt động sáng tác mà chỉ lo sáng tác giống như một nghệ sĩ tự do. Xét về mặt chức năng của một tổ chức chính trị nghề nghiệp sự tồn tại của các Hội VHNT địa phương là sự lãng phí qúa lớn (lãng phí ngân sách nhà nước kinh phí đầu tư xây dựng trụ sở nhân sự…). Ở tỉnh Tiền Giang chỉ tính riêng kinh phí hoạt động và chi phí cho bộ máy nhân sự của Hội mỗi năm UBND tỉnh Tiền Giang phải chi khoảng hơn 600 triệu đồng cho các hoạt động của Hội. Theo tôi Hội VHNT không nên tồn tại với danh nghĩa một tổ chức chính trị nghề nghiệp mà nên chuyển sang phương thức hoạt động như các câu lạc bộ văn học nghệ thuật…Nhà nước chỉ nên hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động của các câu lạc bộ sẽ chủ yếu dựa vào phương thức tự nguyện đóng góp của các thành viên và theo hướng xã hội hóa các hoạt động. Như vậy vừa tiết kiệm nguồn ngân sách nhà nước vừa đáp ứng nhu cầu giao lưu sáng tác của giới văn nghệ sĩ địa phương. Chức năng hoạt động của các CLB phù hợp với hoạt động mang tính nghiệp dư của giới văn nghệ sĩ ở địa phương. Đối với những văn nghệ sĩ chuyên nghiệp họ có thể tham gia các tổ chức Hội trung ương…

* Thực tế là với các văn nghệ sĩ nếu họ có một bản năng sáng tạo đủ mạnh thì họ hoàn tòan có thể tự xác lập vị trí của mình và sẽ được nhìn nhận một các xứng đáng (ví dụ xét kết nạp vào Hội nhà văn được xét giải thưởng có thể tự ra sách…) không cần phụ thuộc vào Hội địa phương nơi mình sinh sống?

Theo tôi sáng tác văn học nghệ thuật là nhu cầu tự thân của văn nghệ sĩ. Hội VHNT địa phương chỉ tồn tại ở góc độ tập hợp đội ngũ và phong trào nên hầu như không có hỗ trợ gì thiết thực về mặt tư tưởng để mang lại hiệu qủa về chất lượng tác phẩm nghệ thuật cho những văn nghệ sĩ có ý hướng bứt phá cách tân trong sáng tạo cả. Dù là một tổ chức chính trị nghề nghiệp nhưng Hội VHNT chỉ tập hợp những cây bút nghiệp dư (ở góc độ mới sáng tác xem sáng tác như trò chơi được chăng hay chớ không có ý hướng dấn thân trong công việc sáng tạo…). Tiêu chuẩn được kết nạp hội viên xem ra qúa dễ dàng chỉ cần hai tác phẩm được in ấn phổ biến trên báo chí các phương tiện truyền thông là đủ tiêu chuẩn kết nạp vào Hội đã khiến Hội trở thành sân chơi của nhiều người bất tài xem văn học nghệ thuật chỉ là thú vui tao nhã. Theo tôi sáng tạo mang ý thức tự thân nên đối với những văn nghệ sĩ đích thực nỗ lực sáng tạo của họ quyết định đến chất lượng nghệ thuật của tác phẩm. Sự hỗ trợ của Hội VHNT chỉ là chất xúc tác bên ngoài đôi khi không cần thiết đối với họ.

* Vai trò quan trọng nhất của các Hội VNHNT địa phương hiện nay là gì theo anh?

 Hiện nay vai trò của Hội VHNT địa phương chỉ là tập hợp những người sáng tác nghiệp dư thành đội ngũ. Tuy nhiên vai trò quan trong nhất là việc hướng giới văn nghệ sĩ sáng tác theo một quan điểm tư tưởng theo đường lối của Đảng và nhà nước hầu như ít mang lại hiệu qủa… 

* Những điểm bất cập hiện nay tại các Hội VHNT địa phương là gì thưa anh?

 Điều bất cập nhất chính là hiện nay ở  các Hội VHNT nhiều người làm cán bộ quản lý văn nghệ nhưng bất tài và thiếu đức. Họ không phát hiện và tập hợp được lực lượng sáng tác. Ngoài ra ở hầu hết các Hội VHNT kinh phí nhà nước đầu tư qúa ít trong khi đó nhu cầu tổ chức các hoạt động sáng tác và giới thiệu biểu diễn tác phẩm của giới văn nghệ sĩ là rất lớn.

 *Theo anh có giải pháp nào để khắc phục những điểm bất cập này?

 Chỉ có cách giải tán Hội VHNT. Nếu giữ lại Hội VHNT thì phải thay đổi phương thức và chức năng bằng cách xã hội hóa các hoạt động và chuyển Hội thành các CLB…

 * Hiện nay có nhiều Hội VHNT địa phương hoạt động rất sôi nổi gây được ảnh hưởng đến đời sống VHNT nước nhà tuy nhiên có những Hội hoạt động rất cầm chừng nếu không muốn nói là khá èo uột. Sự khác biệt này là do đâu theo anh?

Chủ yếu là do vai trò của những người quản lý lãnh đạo Hội khả năng phát hiện và tập hợp lực lượng sáng tác của những người quản lý văn nghệ. Người quản lý Hội VHNT phải là người vừa có phương pháp quản lý khoa học vừa đam mê công việc sáng tạo và hiểu được giới văn nghệ sĩ.

* Khi tham gia vào Hội VHNT tỉnh điều có ý nghĩa nhất đối với anh là gì?

Ý nghĩa nhất đối với tôi là khi tham gia Hội VHNT tôi được gặp gỡ bạn bè văn nghệ để giao lưu học hỏi trao đổi kinh nghiệm sáng tác…

 

Phong Điệp (thực hiện)

 

 

* Một số câu trả lời đã đăng trên Văn Nghệ Trẻ.

 

More...

Khai bút đầu năm- Vũ Tuấn

By Võ Tấn Cường

Đầu năm anh bạn làm thơ trẻ Vũ Tuấn gởi qua email của tôi bài: “Khai bút đầu năm”.  Đọc xong chợt mừng vì bạn thơ vẫn giữ được sự hăm hở và nỗi đam mê sáng tạo. Xin giới thiệu đến cộng đồng VNWEBLOGS để mọi người cùng đọc và chia sẻ:


 

KHAI BÚT ĐẦU NĂM

 

Bút đã phóng những đưòng cày định mệnh

                loằn ngoằn lật xới góc tâm linh

Ta ngồi mơ những con chữ bay về  như hạt thóc đậu cong oằn nhánh lúa...

 

Ai mơ tậu trâu cưới vợ cất nhà ..Ta chỉ mơ tậu chữ bội thu những  mùa vàng thi phú...Ai khoái chuốc rượu đầu năm ta chỉ khoái viết linh tinh trong buổi bình minh chim hót...  May mắn làm sao trong vườn nhà ông ngoại CHÍ HẢO vẫn còn vang lên lời chim lời cây cỏ thầm thì bên giọt sương  đêm ngày bè bạn.  Bởi đâu đó trên hành tinh này âm thanh thơ dại ấy của thiên nhiên vĩnh viễn biến mất .Thay vào đó là tiếng đạn tiếng bom tiếng khóc...(Thôi ngắn gọn vậy được rồi đầu năm nói chuyện buồn e lại làm mình rơi lệ chứ không ai khác!)

Đâu đó một giọt quê nồng nàn chợt đổ xuống trang mộng mơ của ta thấm đẫm không gian xuân tinh khiết...Một giọt ngày phấn khích trèo qua khung cửa sổ diễu hành trên những dòng kẻ cô đơn lạnh lẽo.Như muốn vuốt ve vỗ về an ủi ta về con đường dài phía trước...

Mẹ con CHÍ HẢO vẫn ngủ say dù loa phóng thanh đã phát từ lâu.

Tết mà! Có bận bịu gì đâu dường như mọi người cũng ngủ ngon hơn thường lệ bởi thời tiết ấm áp. Một giọt hy vọng mơ hồ rót tràn chiếc cốc đựng trà trên bàn tiếp khách khi tia nắng loé bừng khuấy đảo vũng nước con con được vây bọc bởi màu men sứ trắng.

Có cái gì nôn nao xôn xao rần rật trong từng mao mạch hối thúc mình nắm bắt viết cho ra hình hài ý tưởng vừa vụt qua.Với hy vọng níu được một thi tứ lạ một đoản văn thơm hương đồng gió nội một bài báo hấp dẫn...

Không hiểu vì sao dạo này mình rất có hứng thú viết lách. Được báo tỉnh in cho vài bài như cú hích càng viết hăng hơn.

 Thú thật trước nay mình ít đọc báo tỉnh nhà vì nghĩ rằng chắc báo Đảng khô khan lắm! Bây giờ thì khác phải săn đón tin bài tìm mua để đọc. Để xem “cái e” của báo thế nào xem anh chị em viết thế nào mà học hỏi. Cộng thêm lời tâm sự chỉ dẫn động viên chí tình của anh bạn nhà thơ: "...Theo mình biết thì con người mới chỉ sử dụng khoảng mấy mươi phần trăm công lực và khả năng sáng tạo của mình còn bao nhiêu bỏ phí không có điều kiện khai thác hết vậy ông thích viết gì cứ viết tới tới đi nghề dạy nghề mà..." Thế là hứng càng thêm hứng!

Trời đã sáng bạch rồi chợt nhớ tới giờ tập "dịch cân kinh" chợt nhớ hôm qua bạn nhắn tin mời đến nhà chơi. Vậy là sáng nay ta phải xuất hành về hướng đông hướng sinh vượng khí nhất theo ngũ hành...Chắc chắn sẽ thu lượm được nhiều ý tưởng mới lạ. Không đi không sàng sảy được tinh hoa ý nghĩ ấy làm mình phấn khích "khởi giá" lên đường...!

 

 

 

 

 

 

More...

Trao đổi thêm với Trần Minh Tạo*- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường

 

 

Thiên lệch hạn hẹp về tư duy khi giải mã ý nghĩa văn bản của người khác:

 

Trần Minh Tạo đã đọc bài viết: “Lê Đạt-người phu chữ thanh xuân” và “Nhận diện thơ ĐBSCL” của tôi theo nhãn quan thiên lệch và hạn hẹp. Anh không hướng đến ý tưởng chủ đạo trong toàn bộ bài viết mà chỉ chú tâm vào một vài từ ngữ trong một đoạn văn mà anh cho là có “vấn đề” rồi giải nghĩa tự nguyên nghĩa gốc của từ ngữ và tách ra khỏi “văn cảnh” sau đó qui chụp áp đặt quan điểm của người khác theo cách cảm cách nghĩ của anh. Anh đã mổ xẻ và mô hình hóa cách diễn đạt của tôi theo cách hiểu của anh về ngữ nghĩa của từ ngữ để rồi tha hồ suy diễn qui chụp đủ trò đủ kiểu. Trần Minh Tạo đã cố tình xuyên tạc ý nghĩa của từ ngữ và đánh tráo khái niệm nhằm khẳng định rằng tôi tự mâu thuẫn với chính mình tôi bị “tiền hậu bất nhất”…Trần Minh Tạo hoàn toàn không đặt nghĩa của từ: “Vết lầy” trong văn cảnh để hiểu điều tôi muốn diễn đạt. Thế nên anh qui chụp tôi là “có dấu hiệu tẩu tán lòng trung thực và cầu thị…”. Anh ngụy biện đến độ đánh tráo khái niệm từ ngữ và đánh đồng cách diễn đạt của người khác với phẩm chất đạo đức của người viết phê bình. Xin độc giả hãy đọc lại hai đoạn trong hai bài viết của tôi sẽ rõ: Trong bài: “Lê Đạt-người phu chữ thanh xuân” tôi viết: “Lê Đạt- người phu chữ thanh xuân đã âm thầm sáng tạo hơn nửa thế kỷ nhằm "đào bới" những quặng chữ để tìm ra vẻ đẹp của thi ca trong "bóng chữ". Cuộc hành trình về cõi tâm linh của nhà thơ Lê Đạt đã vượt qua "nghĩa tiêu dùng" của ngôn ngữ để hướng về chiều sâu thẳm vang vọng của âm thanh và ý nghĩa của ngôn từ trong mối tương quan với nhau. Sự thể nghiệm của ông chỉ thành công khi ngôn ngữ thi ca vừa có ma lực về âm thanh như những câu thần chú vừa có sự chuyển dịch về hình ảnh ý nghĩa gây sự bùng nổ chấn động trong thế giới tâm linh của người đọc. Ngược lại khi ngôn ngữ thi ca của nhà thơ Lê Đạt chỉ là trò chơi của tiềm thức với sự kết hợp đơn thuần giữa các lớp vỏ âm thanh với nhau không có sự thăng hoa của cảm xúc và hình tượng thì những câu thơ của Lê Đạt bị sa vào "vết lầy" của chủ nghĩa Đađa chủ nghĩa hình thức chủ nghĩa siêu thực. Trong bài: “Nhận diện thơ ĐBSCL” tôi viết: “Theo tôi các nhà thơ ĐBSCL cần mở rộng không gian sáng tạo hướng cảm hứng và tư tưởng đến các trào lưu trường phái thơ như: ấn tượng tượng trưng siêu thực hậu hiện đại tân hình thức để khai thác thủ pháp sáng tạo nhằm tạo dựng những phong cách thi ca độc đáo”. Ý của hai đoạn văn trên không hề mâu thuẫn nhau và tác giả không hề “Tiền hậu bất nhất”. Từ “Vết lầy” ở đây để chỉ sự hạn chế của các trào lưu trường phái văn học phương Tây. Trần Minh Tạo không hiểu rằng các trường phái trào lưu đã thuộc về “phạm trù lịch sử” chứ không phải “phạm trù vĩnh viễn”. Mỗi trường phái trào lưu văn học đều có những mặt tích cực tiến bộ và tiêu cực lạc hậu về tư tưởng thẩm mỹ so với yêu cầu của xã hội đượng đại và sự sống còn của văn học hiện đại. Tôi không hề phủ định giá trị của các trường phái trào lưu văn học phương Tây như Trần Minh Tạo nghĩ. Tuy nhiên trong hành trình thơ ca việc: “Mở rộng không gian sáng tạo hướng cảm hứng và tư tưởng đến các trào lưu trường phái thơ phương Tây…” hoàn toàn là yêu cầu của thời đại và là sự cần thiết. Đó chính là sự rút tỉa của tôi trong suốt chặng đường sáng tạo thơ ca của mình. Đó là sự chia sẻ tâm huyết và chân thành của tôi. Các nhà thơ ĐBSCL có làm theo như vậy hay không là quyền của họ. Tôi không hề có ý định áp đặt cho ai cả. Thế mà Trần Minh Tạo ấu trĩ và hạn hẹp đến độ cho rằng: Những nội dung ý tưởng  kia anh chỉ vừa đọc-nghe  lõm được từ đâu đó chừng vài tiếng đồng hồ hay vài ngày trước đó rồi  ngẫu  hứng “chế tác” lại thông qua  ngôn ngữ diễn đạt  đầy “phong cách độc đáo”của mình  mà thôi..”. Trần Minh Tạo tự khép kín với chính mình và dị ứng với tư duy lý luận. Sự hạn hẹp và thiên lệch trong tư duy của anh khiến anh trở thành “ông đồ” chuyên giải nghĩa từ ngữ theo kiểu tu từ học và phán xét người khác theo nhãn quan thiên lệch của mình. Trần Minh Tạo tư duy xiên xẹo   theo kiểu “lùa bùn sang ao” tán theo kiểu nhăng cuội chẳng hề dựa vào văn bản của người khác mà chỉ áp đặt và qui chụp theo kiểu tư duy tư từ học và xã hội học thô thiển. Một đoạn khác trong bài Trần Minh Tạo viết: “Trong bài “Đi tìm chân dung truyện ngắn Đồng Bằng SCL” anh có một “cách nhìn” hết sức mù mờ và phiến diện manh mún lốm đốm da beo chẳng hề có thao tác sưu tầm phân loại trào lưu tư tưởng xu hướng thẩm mỹ phong cách nghệ thuật cho từng loại  như thế nào ra làm sao gồm những ai   từ thời vùng đất này có truyện ngắn đến nay khởi từ thời khẩn hoang (dù chưa có) Pháp thuộc kháng Mỹ và hiện nay sau năm 1975 mà anh đã vội đánh giá chê-khen linh tinh cải lương  này tài tử nọ chẳng có một biện giải một lập luận cùng chứng minh mang tính khoa học nào chỉ châu tuần quanh những nhà văn sau năm 1975 là chính mà vẫn không đủ lại còn  lớn giọng hô hào kêu gọi này nọ bằng những mệnh đề tổng hợp (giống như lời hiệu triệu cách mạng ) về những điều mà ai cũng hiểu cũng biết vì đây vốn còn là tình hình chung của cả nước hiện nay thì ở đây “cái nhìn”của anh quan điểm rốt ráo của anh về truyện ngắn ĐB cùng những người viết ra nó cũng phải mù mờ phiến diện thiếu sót manh mun da beo theo “cách nhìn” trước đó của anh mà thôi”. Đúng là cách viết của Trần Minh Tạo luôn tuân thủ theo kiểu tư duy thiên lệch và qui chụp. Bài viết của tôi chỉ là sự “Phác họa” chỉ nhằm “Đi tìm” chân dung của truyện ngắn ĐBSCL. Tôi không viết phê bình theo phương pháp dựa vào tiến trình lịch sử văn học như Trần Minh Tạo yêu cầu. Tôi chỉ đi tìm chân dung văn truyện ngắn ĐBSCL thời hiện đại chứ đâu viết về tiến trình lịch sử truyện ngắn ĐBSCL đâu mà phải viết về cả thời khẩn hoang thời chống Pháp chống Mỹ…Dựa vào đâu mà Trần Minh Tạo dám hồ đồ cho rằng tôi “Khen chê lung tung cải lương này tài tử nọ…”. Bài viết của Trần Minh Tạo không hề có dẫn chứng chỉ là những nhận định hồ đồ và nhăng nhít không biểu hiện chút gì thái độ phê bình công tâm và bình đẳng. Cách viết suy diễn qui chụp và áp đặt của Trần Minh Tạo thật giống với sự phán xử của ông đồ đối với học trò. Xin hãy đọc xem Trần Minh Tạo phán xử về tôi như thế nào: “ Trong quá khứ anh đã có một sự học lệch môn thiếu môn nên giờ kiến thức lẫn năng lực tự tạo kiến thức cùng năng lực xử lý thực tiễn có liên quan từ kiến thức đang có nơi anh đã bị “méo” cho dù anh có cố chất thêm vào đó bao nhiêu tầng chữ nghĩa mới nữa…”. Trần Minh Tạo mới gặp tôi loáng thoáng một lần mà đã phán xét về kiến thức của tôi một cách hồ đồ như thế thì thật là chủ quan và ác ý. Xin thưa với Trần Minh Tạo. Tôi thì lại ngờ rằng anh chưa từng học hoặc đọc qua môn học lý luận văn học. Cũng như nhiều người khác đúng là thời tôi học Đại học Sư Phạm và Đại học báo chí có thể tôi có học lệch môn và thiếu môn. Nhưng Trần Minh Tạo không hiểu rằng sự tư học và tự tích lũy kiến thức mới là quan trọng hơn. Chuyện học là chuyện cả đời người. Trần Minh Tạo dựa vào đâu mà dám cho rằng”kiến thức của tôi bị méo”?

 

Phê bình theo kiểu: “Tu từ học” và “giải nghĩa học” dung tục:

 

Bài viết của Trần Minh Tạo được viết theo kiểu: “Tu từ học” và “giải nghĩa học” nhằm để bắt bí người khác hơn là hướng đến việc trao đổi tranh luận. Anh cho rằng tại sao tôi không dùng từ: “Nghĩa phái sinh” mà lại dùng từ: “Nghĩa phát sinh”. Trần Minh Tạo tư duy theo kiểu tu từ học giải nghĩa theo từ điển Hán Việt để cho rằng tôi dùng từ không chính xác. Xin thưa Trần Minh Tạo. Tôi cố ý dùng từ: “Nghĩa phát sinh” theo từ thuần Việt có nghĩa là nghĩa được sinh ra từ nghĩa gốc từ nghĩa tự nguyên. So với nghĩa của từ: “Nghĩa phái sinh” việc dùng từ: “Nghĩa phát sinh” là hoàn toàn có cơ sở không có gì là không chính xác không đúng cả…Còn nhiều đoạn văn nhiều chỗ khác trong bài viết Trần Minh Tạo cứ giải nghĩa theo kiểu tu từ học rồi đánh giá qui chụp theo kiểu anh học trò tra từ điển và suy diễn lung tung…Cách viết phê bình của anh đúng là theo kiểu “thầy bói xem voi”. Anh không hề đặt những câu văn đoạn văn của tôi viết trong mối quan hệ với câu thơ đoạn thơ mà tôi phê bình xem sự diễn đạt có phù hợp và chính xác hay không. Anh chỉ làm thao tác đơn giản là rút tỉa một vài từ ngữ trong bài viết của tôi rồi tra từ điển và giải nghĩa qui chụp…Đúng là kiểu tư duy phê bình tu từ học dung tục trong nhà trường một thời vẫn còn rơi rớt lại trong cách phê bình của Trần Minh Tạo. Tôi không cần dẫn chứng thêm kiểu phê bình: “Tu từ học” và “giải nghĩa học” dung tục của Trần minh Tạo sợ làm mất thời gian của bạn đọc….(Xin hãy đọc lại bài viết của Trần Minh Tạo sẽ rõ).

 

Trần Minh Tạo tự nhận viết phê bình theo kiểu học trò phổ thông: Trần Minh Tạo cho rằng anh trao đổi với tôi theo tư cách độc giả. Anh không xem đó là bài phê bình văn học. Trần Minh Tạo tự ý thức về thể loại hay cách viết của anh là như thế nào tôi không quan tâm. Tuy nhiên tôi chỉ muốn nói rằng: Khi Trần Minh Tạo đã viết một bài bộc lộ ý kiến đánh giá khen chê bài viết về văn học của người khác theo một hệ thống quan điểm thì cũng chính là viết phê bình rồi đấy. Xin hãy xem Trần Minh Tạo viết về những bài viết của tôi như thế này: “Tới thời điểm này quả là anh có viết được một số bài về văn học nói chung. Tuy nhiên mấy bài viết ngăn ngắn về văn học này chỉ đang nằm ở dạng thể thông tấn báo chí và xã luận hiệu triệu về văn học  nhiều hơn là một sản phẩm nghiên cứu -lý luận phê bình văn học đúng tầm đúng nghĩa. Do vậy xin can anh: đừng nên tự gọi mình đang viết phê bình văn học. Càng không nên muợn lời nói câu viết của tác giả Vũ Tuấn nào đó (Có văn phong “ngẫu hứng” “vượt qua nghĩa tiêu dùng” và phi cú pháp rất giống anh) nằm trong bài “Nội lực và cá tính sáng tạo còn treo trên Phongdiep.net và Blog của anh mà xưng tụng mình là “nhà phê bình văn học”. “Nhà” là dịch từ chữ “gia” trong chữ Hán.  “Gia” là người có kiến thức chuyên môn tài giỏi vượt trội về một lãnh vực nào đó; anh chữ nghĩa lắm chỗ  còn chưa thông kiến thức căn bản về văn hóa nói chung còn lắm chỗ hỏng chỉ đọc vội đọc vàng rồi “tái hiện” lại  “sáng tác” lại bằng “phong cách ngôn ngữ độc đáo” theo “bút pháp trực giác ấn tượng ngẫu hứng ...”của mình thì không thể gọi đó là nhà phê bình văn học được.  Anh chỉ đang là một người yêu văn học đang tập tành làm nhà phê bình văn học…”. Trần Minh Tạo non nớt ấu trĩ đến độ cho rằng: “ thể thông tấn báo chí” là một thể loại. Xin thưa anh. Thông tấn báo chí để chỉ loại hình báo chí bao gồm cả báo in báo nói báo hình và báo điện tử. Báo chí cũng có nhiều thể loại trong đó có cả nghị luận như: xã luận bình luận phê bình...Trần Minh Tạo kém cỏi đến độ không phân biệt được giữa bài điểm sách hoặc phê bình văn học (Dù là “ngăn ngắn” như anh nói) và thể xã luận báo chí. Thể xã luận báo chí là phát ngôn của một tờ báo chứ không phải của một cá nhân người viết (Tất nhiên bài xã luận thường do một nhà báo có thẩm quyền hoặc có uy tín trong tòa soạn viết). Có thể thấy Trần Minh Tạo hoàn toàn áp đặt khi cho rằng tôi tự cho mình là nhà phê bình. Tôi chưa từng nghĩ và viết như vậy. Tôi chỉ cho rằng mình là người sáng tác thơ viết phê bình văn học. Chỉ đơn giản vậy thôi. Tuy nhiên trong qúa trình viết phê bình tôi luôn bộc lộ chính kiến và tự nâng tầm nhìn của mình ngang tầm với tác giả để có thể khám phá giải mã tác phẩm. Trần Minh Tạo đánh giá về các bài viết của tôi là bài phê bình văn học hay chỉ là bài bình luận báo chí đối với tôi không quan trọng. Tuy nhiên qua sự thú nhận của anh tôi nhận thấy phương pháp phê bình của anh đúng là có vấn đề. Trần Minh Tạo tự viết về mình như thế này: “Tôi xin anh VTC đừng xem tôi là người viết phê bình văn học hoặc đang muốn đi vào lãnh vực hoạt động phê bình văn học: tôi rất  hổ thẹn vì “bị” nhìn nhận như vậy khi từ lâu và mãi cho đến nay tôi luôn  tự biết tôi không đủ kiến thức trình độ chuyên môn  để làm công việc mệt  nhọc này; mà cũng vì tôi cũng chưa bao giờ thích làm công việc này nữa. Tôi thỉnh thoảng có viết vài ba bài về thơ của anh em quen biết ấy chỉ là những bài mang tính cảm nhận của một người yêu thơ thích đọc thơ; là bình giảng theo kiểu học trò phổ thông mà thôi; không thể gọi đó là những bài phê bình văn học được….”. Người viết bài trao đổi về phê bình văn học không phải là người phê bình văn học thì là cái gì? Qủa thật Trần Minh Tạo tự đánh giá về cách phê bình của mình qúa đúng. Anh giả vờ khiêm tốn hay anh không hiểu rằng khi đánh giá viết bài khen chê tác phẩm văn học của người khác hoặc trao đổi tranh luận với người khác chính là viết phê bình. Anh đã đem tư duy phê bình theo kiểu tu từ học và giải nghĩa học theo kiểu “học trò phổ thông” để mổ xẻ những bài phê bình văn học của tôi. Tôi rất lấy làm tiếc vì sự trao đổi của Trần Minh Tạo với tôi chỉ quẩn quanh ở việc tra từ điển ngữ nghĩa của từ Hán Việt rồi qui chụp đánh giá và yêu cầu người khác phải diễn đạt theo cách cảm cách nghĩ của riêng mình…

 

Vài ý cuối cùng trao đổi với Trần Minh Tạo:

Kết thúc bài viết Trần Minh Tạo dẫn chứng một loạt câu nói của các bậc Thánh nhân và nhà tư tưởng để “làm qùa biếu” và để khuyên tôi phải viết và sống như thế này thế nọ. Xin cám ơn Trần Minh Tạo. Qủa là qúi hóa thật. Tuy nhiên tôi muốn nói với Trần Minh Tạo rằng: Mỗi người đều có cách tiếp nhận tư tưởng của người xưa khác nhau và có sự chuyển hóa tư tưởng đó khác nhau. Anh cứ nghiền ngẫm những câu nói mà anh cho là sâu sắc và chí lý. Tôi và mọi người có cách tiếp nhận riêng của mình. Trần Minh Tạo không cần phải chép lại mấy câu triết lý trong sách để dựa vào đó khuyên răn người khác trong khi chính anh chưa chắc đã hiểu đã chiêm nghiệm và làm theo những điều mà cổ nhân đã nói đã viết.

 

Mỹ Tho ngày 22-01-2009

 


 

* Bài của Trần Minh Tạo đăng trên Wesite: www.phongdiep.net 

 

More...

Bàn thêm về từ: "Sa lầy" (vết lầy)- Vũ Tuấn

By Võ Tấn Cường


 

Tra từ điển chữ: "Sa lầy" (vết lầy) thấy định nghĩa như sau: "Sa vào chỗ lầy; thường dùng để ví cảnh rơi vào tình thế khó khăn khó gỡ khó thoát....".  Ví dụ: Xe bị sa lầy; Hội nghị bị sa lầy trong những cuộc tranh cãi vô vị. Vậy: "sa lầy" là chuyện ngoài ý muốn. Xe vẫn cứ lên đường chuyện "sa lầy" là chuyện xảy ra trong cuộc hành trình chỉ có đắp mền nằm nhà thì xe chắc chắn không bị sa lầy. Nhà văn phóng bút say mê quá có thể bị sa lầy trong trận đồ bát quái hỗn độn của ngôn ngữ mà chính mình trong lúc hào hứng sáng tạo bị sa đà không nhận ra. Chỉ có nhà văn "hữu danh vô thực" lười biếng sáng tác mới tránh khỏi chuyện "sa lầy" trong ý tưởng khai phá... Việc nhà thơ Trần Minh Tạo "bắt giò" nhà thơ Võ Tấn Cường về từ "sa lầy" (vết lầy) trong bài viết về nhà thơ Lê Đạt rồi bảo rằng nhà thơ Võ Tấn Cường tự mâu thuẫn; khi anh mong muốn các nhà thơ ĐBSCL mở rộng biên độ sáng tác của mình hướng đến các trường phái khác tôi thấy thiếu chính xác không thuyết phục không thỏa đáng...

Nếu có chuệch choạc "sa lầy"...khi khai phá vùng đất mới trong sáng tác âu cũng là lẽ thường. Sa lầy còn rút chân cứu vãn đâu phải là bế tắc! "Sai lầm của tôi là chưa phạm phải một sa lầm nào"! Có một câu danh ngôn nói thế. Mong sao các nhà thơ thử một lần "sai lầm" mà phóng bút sang vùng đất mới xem! Biết đâu có thể gặt hái được nhiều vụ mùa bội thu...Thậm chí sa lầy cũng  không có gì ngần ngại!

More...

Họa sĩ Phan Anh Lộc và những bức tranh bằng chất liệu lúa gạo- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường



 

 Buổi trưa chủ nhật tôi ghé thăm dịch vụ vẽ quảng cáo của họa sĩ Phan Anh Lộc ở thị trấn Cai Lậy tỉnh Tiền Giang. Họa sĩ Phan Anh Lộc đang cặm cụi vẽ tranh quảng cáo và các hình ảnh minh họa cho các giáo viên dùng làm đồ dùng dạy học. Dù công việc kiếm sống chiếm nhiều thời gian nhưng họa sĩ Phan Anh Lộc vẫn dành tâm huyết và sự đam mê cho công việc sáng tác tranh nghệ thuật.

Họa sĩ Phan Anh Lộc từng tốt nghiệp Đại học Mỹ Thuật thành phố Hồ Chí Minh. Sống gắn bó với vùng đất Cai Lậy gần 30 năm Phan Anh Lộc thường hướng cảm hứng sáng tạo về vẻ đẹp giản dị chân chất của con người và thiên nhiên vùng sông nước. Anh đã tìm kiếm nhiều chất liệu mới cho các tác phẩm hội họa và phát hiện những sắc độ khác nhau từ hạt lúa hạt gạo. Cách đây hơn 10 năm Phan Anh Lộc bắt đầu thử nghiệm sáng tác tranh bằng chất liệu lúa gạo. Công việc chuẩn bị thật công phu gồm nhiều công đoạn khác nhau như: lựa chọn các loại lúa gạo với màu sắc khác nhau xử lý để chống mọt; tạo hình bức tranh và sắp xếp lúa gạo theo từng mảng khối.

Trong số tác phẩm hội họa bằng chất liệu lúa gạo của họa sĩ Phan Anh Lộc người yêu hội họa chú ý đến một bức tranh khá độc đáo đó là tác phẩm: "Hoa hướng dương". Ấn tượng nổi bật của bức tranh là hình tượng hoa hướng dương màu vàng rực những cánh hoa xòe rộng hướng về ánh sáng mặt trời. Họa sĩ Phan Anh Lộc cho biết: "Thông qua hình tượng của hoa hướng dương tôi muốn thể hiện một vẻ đẹp đang sinh sôi phát triển giữa cuộc sống thanh bình của đất nước. Hình tượng của tác phẩm còn bộc lộ việc hướng tới lý tưởng của con người trong cuộc sống....".

Vẻ đẹp lung linh của bức tranh: "Hoa hướng dương" chính là nhờ chất liệu với sắc màu vàng rực của những hạt lúa. Họa sĩ Phan Anh Lộc đã lựa chọn chắt lọc những sắc độ khác nhau từ hạt lúa hạt gạo của quê hương để tạo hình thành bức tranh. Hơn 10 năm qua họa sĩ Phan Anh Lộc đã sáng tác gần 30 tác phẩm có chất liệu từ lúa gạo. Các tác phẩm bằng chất liệu lúc gạo của Phan Anh Lộc chủ yếu thể hiện chân dung của Bác Hồ chân dung mẹ Việt Nam anh hùng và phong cảnh đồng quê cảnh sinh hoạt của người dân ở nông thôn. Họa sĩ Phan Anh Lộc cho biết: "Tôi tìm hiểu và thấy rằng lúa gạo có tới hơn 10 sắc độ tự nhiên khác nhau. Những sắc độ này đủ để người họa sĩ tạo hình thành những bức tranh đa dạng với nhiều chủ đề."

Phát hiện và khám phá vẻ đẹp từ những sắc màu của lúa gạo quê hương hoạ sĩ Phan Anh Lôc đã sáng tác những bức tranh độc đáo mang vẻ đẹp giản dị của con người và cuộc sống.  Hạt lúa hạt gạo của quê hương đã đi  vào các bức tranh của họa sĩ Phan Anh Lộc mang vẻ đẹp lung linh và bộc lộ cái hồn của con người cảnh vật quê hương.

More...

Thấy gì qua bài phê bình văn học của Trần Minh Tạo?- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường



 

1.Phê bình kiểu so sánh nhưng thiếu....phương pháp so sánh.

Trần Minh Tạo so sánh phong cách ngôn ngữ trong bài phê bình: "Lê Đạt-người phu chữ thanh xuân" của tôi ấn tượng giống phong cách ngôn ngữ của F.Nietzsche khi viết "Zarathustra đã nói như thế". Kiểu phê bình so sánh của Trần Minh Tạo hoàn toàn mang tính chủ quan và không dựa vào phương pháp so sánh mang tính khoa học. Do không dựa vào sự tương đồng về thể loại và không dựa trên cái trục lịch sử nên cách so sánh của Trần Minh Tạo khập khiễng không thuyết phục. Tác phẩm của F.Nietzsche có sự hòa trộn dung hòa giữa nhiều thể loại nhằm bộc lộ cái nhìn quan điểm của ông về nhân sinh con người và vũ trụ. Bài viết của tôi thuộc thể loại phê bình thơ và chỉ nhằm khám phá phong cách thơ của Lê Đạt. Hai phong cách ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau và khác nhau về thể loại nên sự so sánh của Trần Minh Tạo đã rơi vào khiên cưỡng khập khiễng.

2. Phê bình theo kiểu...áp đặt người khác diễn đạt theo cách của mình.

Tôi tâm đắc ý kiến của nhà phê bình văn học Pháp Roland Barthes (1915-1980) đại ý rằng người ta không thể có cách nào khác ngoài cách dùng vẻ đẹp văn chương để viết về vẻ đẹp văn chương. Phê bình thơ đối với tôi chính là khám phá ý nghĩa hàm ẩn của ngôn từ sự biến đổi chuyển động về tâm trạng tư tưởng của chủ thể trữ tình (cái tôi trữ tình của nhà thơ) và khám phá con người thẳm sâu của chính mình trong qúa trình tiếp nhận thế giới của cái đẹp trong bài thơ. Tôi quan niệm viết phê bình một bài thơ một tập thơ hoặc một phong cách nghệ thuật của nhà thơ chính là tạo dựng một bài-thơ-văn-xuôi dựa trên một hoặc nhiều phương pháp hệ hình phê bình văn học nào đó. Hầu hết các bài phê bình của tôi đều viết theo phương pháp phê bình trực giác phê bình phân tâm học và phê bình cấu trúc thể hiện sự phát ngôn tự tại của bản thân ít hoặc không dựa vào quan điểm hoặc cách đánh giá của một nhà tư tưởng hoặc một nhà lý luận phê bình nào. Tôi cảm thụ bài thơ và ký mã ngôn ngữ trong bài phê bình một cách tức thời ngẫu hứng dựa vào trực giác và ấn tượng của chính mình. Tôi tin vào những hình tượng vụt hiện lóe sáng trong tâm trí. Chính vì thế dù hiểu nghĩa tự nguyên của từ ngữ nhưng trong qúa trình viết phê bình thơ tôi cho rằng người viết phải vượt qua nghĩa tiêu dùng để tạo dựng phát hiện lớp nghĩa phát sinh khi cho các từ ngữ kết hợp hôn phối với nhau. Tập thơ: "Ngực cỏ" của Lam Hạnh có nhiều bài thơ khắc họa sự sinh sôi nảy nở của sự vật và sự giao hòa mang vẻ đẹp nhục thể trong tình yêu của con người. Vẻ đẹp sinh sôi nảy nở trong quan hệ tính giao của sự vật và con người ẩn chứa vẻ đẹp phồn thực. Tôi viết: "Phồn thực cỏ phồn thực yêu"  và "Sự phồn thực trong thơ Lam Hạnh" là hoàn toàn dựa trên ấn tượng của mình qua các bài thơ của Lam Hạnh. Trần Minh Tạo cần đọc thơ của Lam Hạnh mới có thể chia sẻ với cách diễn đạt của tôi...Ở đây nghĩa phát sinh của từ: "Phồn thực" chính là biểu hiện sự sinh sôi của sự sống của tình yêu tuôn chảy trong thơ Lam Hạnh. Tiến sĩ văn hoá học Đỗ Lai Thúy cũng từng viết về nữ sĩ Hồ Xuân Hương và sự hoài niệm phồn thực. Trần Minh Tạo cho rằng: "anh đã đánh đồng một cách sai trật nội dung nghĩa của nó với bản thể ái tình với dục tính (Libido) nơi vạn vật nói chung và loài người nói riêng" là hoàn toàn suy diễn và áp đặt. Sự phồn thực trong thơ Lam Hạnh không hề bị đánh đồng với "bản thể ái tình" mà chỉ là đối tượng để nhà thơ bộc lộ cảm hứng thẩm mỹ và khắc họa sự sinh sôi nảy nở của sự vật tình yêu của con người trong thế giới thi ca mà thôi.

Trần Minh Tạo đã "viết lại" phong cách phê bình thơ của tôi theo cách diễn đạt nôm na dễ hiểu dễ cảm và theo cách nghĩ của anh. Trong bài: "Tuyết: Tinh khiết hồn-Tinh khiết thơ" tôi viết: "Thơ của ông giàu tính chiêm nghiệm ngôn ngữ thơ cô đúc dồn nén và đều hàm chứa năng lượng của tình thương đối với con người và nỗi niềm nhân thế. Ý thức về sự đào thải nghiệt ngã của thời gian nhà thơ Vũ Phán hướng cảm hứng sáng tạo về vẻ đẹp thanh khiết trinh trắng của tâm hồn và sự vật".Trần Minh Tạo cho rằng: "Theo tôi Võ Tấn Cường cứ viết như sau: "Thơ ông giàu tính chiêm nghiệm ngôn ngữ thơ cô đúc dồn nén và đầy tình thương đối với con người và nỗi niềm nhân thế " thì vẫn đủ và rõ (dù có chút chưa sáng sủa về cách hành văn ); cần gì phải vất vả gồng gánh trộn nhào bê-tông chữ nghĩa rồi đem đổ "tấm" lên một ngôi nhà ý tưởng bé nhỏ chỉ toàn vách lá với tràm làm kèo làm cột mà thôi? Chẳng  lẽ tư duy ngôn ngữ và đường lối diển đạt trong giao tiếp xã hội của người cầm bút thời công nghiệp hóa -hiện đại hóa bây giờ là phải "bêtông hóa" "cao ốc hóa" như vậy hay sao..". Rõ ràng Trần Minh Tạo không hiểu hoặc cố tình không hiểu rằng giọng điệu trong bài văn trong tác phẩm phê bình và cách diễn đạt của mỗi tác giả hoàn toàn khác nhau thể hiện nét độc đáo riêng của mỗi người. Quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật cho thấy: mỗi một hình thức nghệ thuật đều hàm chứa nhiều nội dung khác nhau và mỗi một nội dung có thể diễn đạt bằng nhiều hình thức nghệ thuật khác nhau. Thử hỏi nếu Trần Minh Tạo yêu cầu Hoài Thanh phải diễn đạt giống Hải Triều Phương Lựu diễn đạt giống Trần Đình Sử Đỗ Lai Thúy diễn đạt như Đỗ Minh Tuấn hay phải diễn đạt theo cách cảm cách nghĩ của anh thì phong cách ngôn ngữ của các nhà phê bình sẽ như thế nào? Đây là yêu cầu hoàn toàn vô lý và vô tình trong qúa trình tiếp nhận văn bản của người khác Trần Minh Tạo đã thủ tiêu phong cách giọng điệu của mỗi nhà phê bình .

Trong bài: "Nhận diện thơ ĐBSCL" tôi viết: "Các nhà thơ ĐBSCL cần đào luyện và tạo dựng một hệ thống ý thức triết học quan niệm sáng tác và quan niệm thẩm mỹ riêng. Quan niệm thẩm mỹ trong ca nhạc tài tử và vọng cổ không thể vận dụng vào thi ca bởi vì cái ước lệ và uỷ mị có nguy cơ tổn hại đến cái đẹp của thi ca. Sự phóng khoáng chịu chơi và hào hiệp của con người tài tử Nam Bộ chỉ là chất liệu của bài thơ chứ không thể hình thành nên tính cách và tầm vóc tư tưởng của nhà thơ. Những thuật ngữ trong đoạn văn trên chỉ là thuật ngữ văn học không phải thuật ngữ triết học và cũng không có gì qúa cao xa rắc rối cả. Thế mà Trần Minh Tạo viết: "...Xin phép nói thêm với anh rằng sự diễn đạt ý tưởng như trên của anh là rất không sáng sủa vì sự cố ý rắc rối hóa nó bằng những thuật ngữ khái quát triết học quá cao xa mà lại không cần thiết có khi còn rơi vào trường hợp không chuẩn về nghĩa nữa .Giá như anh bảo rằng: "Chúng ta cần nâng cao trình độ văn hóa các mặt trong đó có lãnh vực triết học đông tây kim cổ để có thể nâng cao trình độ tư duy khái quát cao hơn sâu hơn rộng hơn về các mặt tồn tại của nhân thế và thế nhân đồng thời ý thức hơn nữa về tính thẩm mỹ tương ứng trong tiến trình sáng tạo nghệ thuật thơ ca của mình" thì người đọc mới không phải cảm thấy phân vân nhiều thứ hơn....". Trần Minh Tạo đòi viết lại đoạn văn của tôi theo cách diễn đạt của riêng anh. Kiểu phê bình của Trần Minh Tạo đã bỏ qua và bất chấp phong cách ngôn ngữ của tác giả mà anh viết bài phê bình. Anh chỉ cảm nhận ý nghĩa diễn đạt trong ngôn ngữ của người khác qua tấm lăng kính chủ quan của chính mình. Đây không phải là tư duy phê bình mà chỉ là sự độc đoán và thô bạo khi tiếp nhận văn bản phê bình của người khác.

3. Tư duy phiến diện khi giải mã ý nghĩa văn bản của người khác.

Trần Minh Tạo đã thể hiện trong bài viết kiểu tư duy phiến diện suy diễn lệch lạc khi giải mã ý nghĩa của từng câu văn từng đoạn văn trong các bài phê bình thơ của tôi. Tôi hoàn toàn không yêu cầu các nhà thơ phải sáng tác theo quan niệm của các trường phái trào lưu thơ ca của phương Tây. Điều tôi muốn thổ lộ là các nhà thơ cần hướng cảm hứng và khai thác các thủ pháp nghệ thuật của các trào lưu trường phái để mở rộng quan niệm sáng tác và làm phong phú phong cách sáng tạo của mình. Lịch sử thi ca hiện đại của Việt Nam đã cho thấy thành tựu thơ của phong trào Thơ Mới và nhóm Xuân Thu Nhã Tập những năm nửa đầu thế kỷ XX chính là sự tiếp thu có sáng tạo quan niệm sáng tác của các trào lưu trường phái thơ Pháp và phương Tây. Trong bài: "Nhận diện thơ ĐBSCL" của tôi có một đoạn như sau: "Theo tôi các nhà thơ ĐBSCL cần mở rộng không gian sáng tạo hướng cảm hứng và tư tưởng đến các trào lưu trường phái thơ như: ấn tượng tượng trưng siêu thực hậu hiện đại tân hình thức để khai thác thủ pháp sáng tạo nhằm tạo dựng những phong cách thi ca độc đáo".Thế mà Trần Minh Tạo cho rằng: "Thông qua lời khuyên này mới thấy anh có một quan niệm về thơ nói chung và thơ hiện đại (trong quan niệm của anh) nói riêng rất non cạn. Non cạn vì anh nghĩ rằng muốn có một "phong cách thi ca độc đáo" thì cứ "khai thác thủ pháp sáng  tạo" vốn đã và đang nằm sẵn trong các trào lưu trường phái thơ như: ấn tượng tượng trưng siêu thực hậu hiện đại tân hình thức là xong. Có nghĩa là xúm nhau đi "bắt chước" thủ pháp nghệ thuật của các trường phái này. Rõ ràng anh không biết rằng trong nghệ thuật thơ ca người ta không thể xây dựng phong cách cho mình bằng sự "bắt chước" thủ pháp của người khác..."

Trần Minh Tạo cố tình không hiểu rằng: nghĩa của cụm từ:"Khai thác thủ pháp sáng tạo" hoàn toàn khác nghĩa của từ:"Bắt chước". Điều tôi muốn diễn đạt ở đây là các nhà thơ cần tiếp thu có sáng tạo các tinh hoa của các trào lưu trường phái thi ca phương Tây chứ đâu phải "bắt chước" hoặc "rập khuôn". Sự sáng tạo thi ca sẽ thụt lùi hoặc đi vào ngõ cụt nếu nhà thơ lặp lại chính mình hoặc bắt chước các nhà thơ đi trước. Trần Minh Tạo đã nông cạn khi hiểu việc tiếp thu và khai thác đồng nghĩa với việc bắt chước. Chẳng có nhà thơ nào ngây thơ và dại dột theo kiểu Trần Công Tạo nghĩ đâu...

Tôi không hề mâu thuẫn khi cho rằng: "Khi ngôn ngữ thi ca của nhà thơ Lê Đạt chỉ là trò chơi của tiềm thức với sự kết hợp đơn thuần giữa các lớp vỏ âm thanh với nhau không có sự thăng hoa của cảm xúc và hình tượng thì những câu thơ của Lê Đạt bị sa vào "vết lầy" của chủ nghĩa Đađa chủ nghĩa hình thức chủ nghĩa siêu thực. Trần Minh Tạo không hiểu rằng việc tôi đã dùng từ: "Vết lầy" nhằm để nhấn mạnh rằng ngoài những tinh hoa đã khẳng định thử thách qua thời gian thì vẫn còn những hạn chế hoặc lỗi thời của những trào lưu trường phái thơ phương Tây. Khi ngôn ngữ chỉ là trò chơi của tiềm thức thì nó sẽ là "vết lầy" và là nó chỉ là trò chơi vô nghĩa....

Trần Minh Tạo viết phê bình văn học mà lại dị ứng với những thuật ngữ văn học triết học. Anh không hiểu hoặc cố tình không hiểu rằng ngôn ngữ hình tượng vừa là chất liệu vừa là mục đích sáng tạo của nhà thơ và thuật ngữ văn học và triết học là phương tiện chất liệu của người viết phê bình. Chính vì thế kết thúc bài viết Trần Minh Tạo đã khuyên tôi: "Riêng tôi tôi thấy anh là người tiếp xúc với chữ nghĩa nơi sách vở khá nhiều nhưng tiếc rằng khi đọc hay học xong anh không chịu vứt hết nó đi để mọi hiểu biết còn lại mớicơ hội trở thành máu thịt nơi chính anh và trên cơ sở này anh mới có cơ hội cảm và  nghĩ trước mọi vấn đề bằng chính những gì là của anh ở trong anh xuất phát từ anh...Bằng không dễ  làm cái chong chóng chỉ biết xoay chiều theo những gì vừa thổi vào anh mà thôi...". Cám ơn Trần minh Tạo. Tôi sẽ suy ngẫm về lời khuyên của anh. Tôi muốn chia sẻ với anh rằng để viết được bài phê bình vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật anh cần trang bị cho mình một hệ thống lý luận phê bình và các hệ hình lý luận phê bình văn học khác nhau đồng thời cần tạo dựng một hệ thống ngôn ngữ độc đáo của riêng mình. Có như vậy khi viết phê bình văn học anh mới không bị sa vào tư duy suy diễn và áp đặt chủ quan vốn xa lạ với tư duy của người viết phê bình văn học và mới có thể tạo dựng được thế giới ngôn từ độc đáo của riêng mình.


Mỹ Tho ngày 16-01-2009

More...

Thấy gì qua một số bài viết về văn học của Võ Tấn Cường?- Trần Minh Tạo

By Võ Tấn Cường

 

1. CÓ BÀI VIẾT RẤT SÂU SẮC VÀ HAY...

Đó là bài có tựa đề :"Lê Đạt: người phu chữ thanh xuân". Tại đây ngoài sự biểu lộ một sở học khá vững chải và ít nhiều sâu sắc về lãnh vực thơ ca ra về mặt diễn đạt quả thật Võ Tấn Cường đang sở hữu được một phong cách ngôn ngữ rất ấn tượng không thua gì F.Nietzsche khi viết "Zarathustra đã nói như thế" vào những năm cuối thế kỷ 19 bên châu Âu nhằm bày tỏ quan niệm triết lý của mình về nhiều đối tượng khác nhau trong cuộc sống bấy giờ trong đó có cả thơ và nhà thơ . Xin trích ra đây một đoạn để làm bằng về trình độ lẫn phong cách ngôn ngữ diễn đạt của anh về lãnh vực thơ: "Paul Valery từng cho rằng âm thanh là luồng ngầm của ý nghĩa. Trong cơ chế mã hóa ngôn từ Lê Đạt rất chú trọng đến sự tương quan cộng hưởng giữa âm thanh và ý nghĩa. Âm thanh trong ngôn ngữ thơ của Lê Đạt hướng về "tiếng hạt nảy mầm tiếng ú ớ trong cơn mơ tiếng cúc áo bật từ lồng ngực trinh nguyên của thiếu nữ và cả tiếng thở dài của người thiếu phụ hồi xuân giữa đêm khuya". Lê Đạt thấu hiểu vẻ đẹp của âm thanh và "sự vangvọng của ý nghĩa ngôn từ" nhưng ông vẫn bị nó mê hoặc dẫn dụ. Đôi khi Lê Đạt "tự chônbản ngã của ông trong nấm mồ chữ để tự vẽ chân dung bằng thơ nhằm bộc lộ trạng thái tâm hồn và thi ca của mình"".

2. NHƯNG ƯA HÀN LÂM HÓA NGÔN NGỮ MỘT CÁCH KHÔNG CẦN THIẾT.

Xin dẫn chứng ra đây để bạn đọc cùng tham khảo và trao đổi lại nếu tôi có nói ra những điều không đúng . Tại bài: "Tuyết: Trinh trắng hồn –Trinh trắng thơ" Võ Tấn Cường có viết một đoạn như sau: "Thơ của ông giàu tính chiêm nghiệm ngôn ngữ thơ cô đúc dồn nén và "đều hàm chứa năng lượng của tình thương đối với con người và nỗiniềm nhân thế". Ý thức về sự đào thải nghiệt ngã của thời gian nhà thơ Vũ Phán hướng cảm hứng sáng tạo về vẻ đẹp thanh khiết trinh trắng của tâm hồn và sự vật". Ở đây rõ ràng cụm từ "hàm chứa năng lượng của tình thương ..." là sự cố tình sử dụng một kiểu loại ngôn ngữ mang tính tư duy khái quát triết học liên ngành khá cao bằng một cấu trúc văn phạm cũng nằm trong sự cố tình làm cho nó mang đậm một vẻ đẹp tư biện duy lý đầy gấp khúc gập ghềnh của các triết gia phương Tây mà người Việt Nam ta thường tiếp xúc được qua các bản văn dịch mà thôi; điều đáng nói ở đây là tất cả chỉ nhằm diễn đạt một nội dung ý nghĩa rất bình dị thông thường dễ hiểu . Theo tôi Võ Tấn Cường cứ viết như sau: "Thơ ông giàu tính chiêm nghiệm ngôn ngữ thơ cô đúc dồn nén và "đầytìnhthương đối với conngười và nỗi niềm nhân thế" thì vẫn đủ và rõ (dù có chút chưa sáng sủa về cách hành văn); cần gì phải vất vả gồng gánh trộn nhào bê-tông chữ nghĩa rồi đem đổ "tấm" lên một ngôi nhà ý tưởng bé nhỏ chỉ toàn vách lá với tràm làm kèo làm cột mà thôi? Chẳng lẽ tư duy ngôn ngữ và đường lối diễn đạt trong giao tiếp xã hội của người cầm bút thời công nghiệp hóa -hiện đại hóa bây giờ là phải "bêtông hóa" "cao ốc hóa" như vậy hay sao? Quả thật đặc điểm này luôn có trong mọi bài viết ngắn nói trên của anh; có những chỗ còn ngoằn ngoèo lòng thòng mù mịt hơn nữa . Tại đây chỉ là một dẫn chứng dễ thấy nhất trong nhiều điều như thế. Nó làm cho người đọc đau đầu không cần thiết. Xin anh lưu ý lại điểm này nếu còn muốn "tâm tình trao đổi"với người đọc nói chung và đồng nghiệp nói riêng.

3. LỎNG LẺO TRONG SỰ HIỂU LẪN SỰ "CHẾ TÁC" NGÔN NGỮ DIỄN ĐẠT

Xin lấy một ví dụ. Tại bài "Lam Hạnh: Phồn thực cỏ - Phồn thực yêu" Võ Tấn Cường viết một đoạn như sau: "Sự phồn thực trong thơ Lam Hạnh như một thứ quyền năng sống như men rượu tan chảy trong tận cùng huyết quản conngười và tan chảy vào từngsự vật đang sinh sôi quẫy đạp". Thú thực đây là lần đầu tiên trong đời tôi gặp cụm từ "Sự phồn thực trong thơ Lam Hạnh" như vậy. "Phồn thực"là gì? Đây là từ Hán Việt. "Phồn" bộ "Mịch" có nghĩa là "nhiều" là "đầy đàn đầy lũ". "Thực" bộ "Ngạt" có nghĩa là "sinh đẻ". Ở nghĩa đen của nó "phồn thực" có nghĩa là "sinh đẻ nhiều nảy nở nhiều". Vậy "Phồn thực cỏ" "Phồn thực thơ" "Phồn thực trong thơ Lam Hạnh như một thứ quyền năng sống ... "là gì? Rõ ràng tại đây Võ Tấn Cường có vấn đề về sự hiểu và sự dùng của mình đối với hai chữ "phồn thực" này. Nếu anh dùng nó ở tầng cấp nghĩa đen thì các cụm từ: "Phồn thực cỏ" "Phồn thực yêu" "Sự phồn thực trong thơ Lam Hạnh..." chẳng có một nội dung ý nghĩa gì cả dù riêng anh thì có khi lại có một nội dung ý tưởng như thế nào đó muốn thông điệp tới người đọc . Nói cách khác anh đã không hiểu rõ hoặc đã cố tình tự mình hủy bỏ nghĩa đen truyền thống vốn có của từ này; anh đã đánh đồng một cách sai trật nội dung nghĩa của nó với bản thể ái tình với dục tính (Libido) nơi vạn vật nói chung và loài người nói riêng. Còn nếu ở đây trong các cụm từ trên anh dùng nó ở nghĩa bóng mang tính "sáng tạo nghệ thuật" khi bàn định về tập thơ "Ngực cỏ"của Lam Hạnh thì cũng không ổn: mọi sáng tạo nào về nghĩa cũng phải tựa lưng vào nghĩa gốc nghĩa đen của nó. "Màn trời chiếu đất" là cụm từ có thi tính đấy vì đã truyền đạt lấp lánh được một nội dung nằm bên ngoài nó và lớn hơn gấp nhiều lần nghĩa đen các từ gộp lại: chỉ cảnh ăn ở sinh hoạt trong tình trạng không cửa không nhà nghèo khổ cơ hàn của ai đó.... Người ta chỉ có thể nhận ra được nghĩa bóng nghĩa siêu văn bản nghĩa nghệ thuật của cụm từ trên khi các nghĩa đen của từng thành tố cấu tạo bên trong nó còn nguyên vẹn trong chính nó lẫn trong chính người tiếp nhận thẩm mỹ đối với nó; tỷ như ai đem chữ "Bàn" thế nào thành "Bàn trời chiếu đất" dù có cố tình gán nghĩa : "Bàn"là "cái màn" thì cũng không sao thành được một sản phẩm ngôn ngữ nghệ thuật mang thi tính cho cụm từ trên. Thành ra trong trường hợp "Phồn thực cỏ" "Phồn thực yêu" "sự phồn thực trong thơ Lam Hạnh"này không thể bảo rằng Võ Tấn Cường là người đáng được hoan nghênh và đáng được khích lệ trong việc chế tác nội dung ngôn ngữ mới theo một kiểu cách như vậy . Thực chất ở đây anh chỉ là người cố tình thích dùng những từ ngữ "siêu bình thường đơn giản" để diễn tả những ý tưởng chỉ thuần túy nằm ở tầm cấp hoàn toàn bình thường đơn giản mà thôi. Một sự hiện đại hóa cách tân hóa về tư duy về ngôn ngữ diễn đạt nơi văn viết kể cả nơi ý thức cùng quan niệm thẩm mỹ về thơ ca trong thời kỳ cả nước đang hội nhập với Mỹ với Anh hiện nay ư? Xin thưa nếu là vậy thì miền Nam cộng hòa thời xưa cách đây trên dưới 40 năm đã hội nhập rồi hội nhập trực tiếp tận kho tận bãi nguyên đai nguyên kiện mà lúc ấy cũng chẳng thấy đẻ ra những khuôn mặt chữ nghĩa trong bình luận về thơ kỳ quặc như vầy!... Tất nhiên điều này cũng lại không chỉ xuất hiện trong bài viết về thơ Lam Hạnh nói trên thôi đâu. Hầu như bài nào cũng có có rất nhiều. Giống như học sinh lớp 12 bây giờ đang bàn luận những vấn đề nghệ thuật và triết học cao sâu mà bản thân các em thì lại chưa có đủ lẫn chưa thông suốt triệt để các thuật ngữ công cụ chuyên ngành có liên quan vậy. Nhưng ở đây tôi không thể dẫn ra nhiều bằng chứng hơn nữa vì không muốn viết dài hơn: chỉ xin dẫn ra một ví dụ điển hình ở trên thôi . "Hiện trường" bài viết vẫn còn nguyên trên trang Web SCL...

4. CÓ BÀI ĐỘT NHIÊN HỤT TẦM TRI THỨC THƠ CA

Như trên đã nói trong bài viết về Lê Đạt Võ Tấn Cường đã biểu lộ được một kiến thức về thi ca khá vững dầy nơi mình. Anh nhận định đánh giá về thơ Lê Đạt như một người nghiên cứu chuyên nghiệp nhất là khi anh có nhắc tới Paul Valéry một nhà thơ nổi tiếng lâu đời bên châu Âu và cả thế giới cùng nhiều quan niệm về thơ của ông. Tuy nhiên khi đọc bài viết : "Nhận định về thơ đồng bằng sông Cửu Long" của anh thì tôi rất bất ngờ hoang mang. Tôi hoang mang bất ngờ vì không biết khuôn mặt kiến thức nào mới là thật của anh?! Xin đưa vấn đề ra nơi đây. Tại bài này anh có viết một đoạn như sau: "Theo tôi các nhà thơ ĐBSCL cần mở rộng không gian sáng tạo hướng cảm hứng và tư tưởng đến các trào lưu trường phái thơ như: ấn tượng tượng trưng siêu thực hậu hiện đại tân hình thức để khai thác thủ pháp sáng tạo nhằm tạo dựng những phong cách thi ca độc đáo". Quả thật xét về mặt động cơ thì lời khuyên nói trên của Võ Tấn Cường là rất đáng trân trọng; biểu lộ lòng thành ý tốt của anh đối với sự nghiệp làm thơ của người đồng bằng cũng chính là quê hương của anh và lẫn của tôi. Tuy nhiên thông qua lời khuyên này mới thấy anh có một quan niệm về thơ nói chung và thơ hiện đại (trong quan niệm của anh) nói riêng rất non cạn. Non cạn vì anh nghĩ rằng muốn có một "phong cách thi ca độc đáo" thì cứ "khai thác thủ pháp sáng tạo" vốn đã và đang nằm sẵn trong "các trào lưu trường phái thơ như: ấn tượng tượng trưng siêu thực hậu hiện đại tân hình thức" là xong. Có nghĩa là xúm nhau đi "bắt chước" thủ pháp nghệ thuật của các trường phái này. Rõ ràng anh không biết rằng trong nghệ thuật thơ ca người ta không thể xây dựng phong cách cho mình bằng sự "bắt chước" thủ pháp của người khác. Sự bắt chước giỏi lắm cũng chỉ đẻ ra được cái na ná; là hàng nhái hàng mạo hóa mà thôi. Không thể nào tạo ra được mùi vị chất lượng chính phẩm bên trong bài thơ của mình. Vì sao?Vì rằng rất dễ hiểu phong cách thơ ca của một cá nhân của một vùng đất của một trào lưu của một trường phái chỉ có thể là sự xuất hóa tổng quát khát vọng triết học biểu lộ qua khát vọng qua lí tưởng thẩm mỹ qua quan niệm về cái đẹp của một cá nhân của một vùng của một trào lưu một trường phái tư tưởng nhất định trong một thời kỳ kinh tế -chính trị và văn hóa xã hội nhất định. Do vậy muốn có một phong cách thi ca độc đáo thì trước tiên người ta phải độc sáng hoặc đồng thuận theo một chủ thuyết triết lý độc đáo nào đó về hiện thực tự nhiên về xã hội nhân sinh và nhân sinh xã hội . Đây là quan niệm nền tảng cho mọi quan niệm khác nhau trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng. Chỉ khuyên như Võ Tấn Cường vừa khuyên là tốt song lại chưa đủ chưa đúng và nếu có phần nào đúng thì lại cũng chưa triệt để . Vô hình trung có thể tạo ra một trào lưu một trường phái thơ ca lắp ghép thơ ca coppy và hổ lốn về hình thức câu chữ ở đồng bằng từ các trào lưu trường phái mà anh đã điềm chỉ nếu có ai đó nhẹ dạ tin theo anh. Tất nhiên viết tới đây tôi rất tâm đắc với một nhận định mang tính phản tỉnh của anh trong lãnh vực sáng tạo nghệ thuật thơ ca của người đồng bằng hiện nay. Đó là : "Cái thiếu của thơ ĐBSCL chính là ý thức triết học và ý thức thẩm mỹ của các nhà thơ" rồi khuyên rằng : "Các nhà thơ ĐBSCL cần đào luyện và tạo dựng một hệ thống ý thức triết học quan niệm sáng tác và quan niệm thẩm mỹ riêng. Quan niệm thẩm mỹ trong ca nhạc tài tử và vọng cổ không thể vận dụng vào thi ca bởi vì cái ước lệ và uỷ mị có nguy cơ tổn hại đến cái đẹp của thi ca. Sự phóng khoáng chịu chơi và hào hiệp của con người tài tửNam Bộ chỉ là chất liệu của bài thơ chứ không thể hình thành nên tính cách và tầm vóc tư tưởng của nhà thơ". Vâng tôi đồng ý với anh về điều này với tư cách một người đồng bằng lâu lâu cũng ưa làm thơ. Nhưng cũng xin phép nói thêm với anh rằng sự diễn đạt ý tưởng như trên của anh là rất không sáng sủa vì sự cố ý rắc rối hóa nó bằng những thuật ngữ khái quát triết học quá cao xa mà lại không cần thiết có khi còn rơi vào trường hợp không chuẩn về nghĩa nữa. Giá như anh bảo rằng: "Chúng ta cần nâng cao trình độ văn hóa các mặt trong đó có lãnh vực triết học đông tây kim cổ để có thể nâng cao trình độ tư duy khái quát cao hơn sâu hơn rộng hơn về các mặt tồn tại của nhân thế và thế nhân đồng thời ý thức hơn nữa về tính thẩm mỹ tương ứng trong tiến trình sáng tạo nghệ thuật thơ ca của mình" thì người đọc mới không phải cảm thấy phân vân nhiều thứ hơn....

5.KHÔNG NHẤT QUÁN TRONG TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT

Đây là điểm cần đặc biệt trao đổi thêm với Võ Tấn Cường. Tại bài viết có tựa đề "Nhận định về thơ ca đồng bằng sông Cửu Long" nói trên (24/12/2008) anh đã từng giấy trắng mực đen khuyên anh em rằng: "cần mở rộng không gian sáng tạo hướng cảm hứng và tư tưởng đến các trào lưu trường phái thơ như:ấn tượng tượng trưng siêu thực hậu hiện đại tân hình thức để khai thác thủ phápsáng tạo nhằm tạo dựng nhữngphong cách thi ca độc đáo". Thế nhưng tại bài viết về thơ Lê Đạt nói trên (17/10/2008) có đoạn anh lại viết rằng: Lê Đạt - người phu chữ thanh xuân đã âm thầm sáng tạo hơn nửa thế kỷ nhằm "đào bới" những quặng chữ để tìm ra vẻ đẹp của thi ca trong "bóng chữ". Cuộc hành trình về cõi tâm linh của nhà thơ Lê Đạt đã vượt qua "nghĩa tiêu dùng" của ngôn ngữ để hướng về chiều sâu thẳm vang vọng của âm thanh và ý nghĩa của ngôn từ trong mối tương quan với nhau. Sự thể nghiệm của ông chỉ thành công khi ngôn ngữ thi ca vừa có ma lực về âm thanh như những câu thần chú vừa có sự chuyển dịch về hình ảnh ý nghĩa gây sự bùng nổ chấn động trong thế giới tâm linh của người đọc. Ngược lại "khi ngôn ngữ thi ca của nhà thơ Lê Đạt chỉ là trò chơi của tiềm thức với sự kết hợp đơn thuần giữacác lớp vỏ âm thanhvới nhau không có sự thăng hoa của cảm xúc và hìnhtượngthì những câu thơ của Lê Đạt bị sa vào"vết lầy" của chủ nghĩa Đađa chủ nghĩa hình thức chủ nghĩasiêu thực"Ơ hay sao vừa khuyên anh chị em ở đồng bằng mình nên "hướng cảm hứng và tư tưởng đến các trào lưu trường phái thơ như: ấn tượng tượng trưng siêu thực hậu hiện đại tân hình thức để khai thác thủ pháp sáng tạo nhằm tạo dựng những phong cách thi ca độc đáo" mà tại bài viết trên cách ngược về trước chỉ có trên dưới 60 ngày anh lại cho chủ nghĩa siêu thực là một "vết lầy"?! Anh cho chủ nghĩa siêu thực và trường phái hay trào lưu siêu thực là ngược với nhau sao? Và anh cũng cho thủ pháp sáng tạo nghệ thuật thơ ca của từng trào lưu hay trường phải không phải là một bộ phận biểu lộ trực tiếp về quan niệm thẩm mỹ ... của các trào lưu và trường phái có liên quan hay sao? Nếu anh cho vậy là anh đã lầm. Nếu không cho vậy thì anh đã bất nhất với chính mình . Riêng tôi tôi thấy anh là người tiếp xúc với chữ nghĩa nơi sách vở khá nhiều nhưng tiếc rằng khi đọc hay học xong anh không chịu vứt hết nó đi để mọi hiểu biết còn lại mới có cơ hội trở thành máu thịt nơi chính anh và trên cơ sở này anh mới có cơ hội cảm và nghĩ trước mọi vấn đề bằng chính những gì là của anh ở trong anh xuất phát từ anh... Bằng không dễ làm cái chong chóng chỉ biết xoay chiều theo những gì vừa thổi vào anh mà thôi...

Sa Đéc - Đồng Tháp mùa giáp tết Kỷ Sửu

Bài viết đăng trên:

www.phongdiep.net và www.vannghesongcuulong.org.vn

More...