"Mưa nguồn" và khát khao giao hòa với cõi uyên nguyên của vũ trụ- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường



Trần Hoàng Vũ Nguyên


 


(Bình bài thơ: "Mưa nguồn" trích trong tập thơ: "Ngựa núi")



Trần Hoàng Vũ Nguyên



MƯA NGUỒN



Đêm trở giấc

nhớ

chơi vơi

Nghe mưa rụng hột

buồn rơi rớt buồn

Chừng như

tiếng dội đầu truông

Mưa khao khát

trở về nguồn uyên nguyên

Giọt sương

ngậm nắng xuân mềm

Chừng như thấm đẫm

một đêm

mưa nguồn


T.H.V.N




Lời bình:


Đêm ngóng đợi cơn mưa muộn. Đọc bài thơ: "Mưa nguồn" của Trần Hoàng Vũ Nguyên tâm hồn tôi hướng về cõi mênh mang của đất trời ngóng đợi những giọt mưa mát lành. Cơn mưa của đất trời chưa đến nhưng cơn mưa trong tâm tưởng lại chợt ùa về. Đọc bài thơ: "Mưa nguồn" tâm hồn tôi hướng về không gian nghệ thuật của bài thơ để hình dung về sự trăn trở của một người giữa đêm mưa. Mở đầu bài thơ tác giả khắc họa không gian và thời gian chất chứa nỗi niềm nhớ thương trong hồn người. Nỗi nhớ tưởng như vô hình lơ lửng giữa không gian nhưng vẫn hiện hữu trong tâm tưởng:

"Đêm trở giấc

nhớ

chơi vơi"

Nỗi nhớ bắc cầu cho nỗi buồn chợt hiện về. Hình tượng của nỗi buồn bao phủ khắp không gian như những hạt mưa rụng rơi dai dẳng:

"Nghe mưa rụng hột

buồn rơi rớt buồn"


Hình tượng hạt mưa bé nhỏ mong manh mang tính ẩn dụ về sự sống thân phận của con người. Số phận của hạt mưa cũng chính là số phận của con người luôn khát khao trở về giao hòa với cõi uyên nguyên của vũ trụ:

"Chừng như

tiếng dội đầu truông

Mưa khao khát

trở về nguồn uyên nguyên"


Nỗi khát khao biểu hiện qua những âm thanh vang vọng của thiên nhiên và những hạt mưa tuôn trào giữa không gian. Hai câu thơ cuối cái nhìn của nhà thơ hướng về sự tương tác giữa sự vật bé nhỏ và cái bao la rộng lớn của vũ trụ:


"Giọt sương

ngậm nắng xuân mềm

Chừng như thấm đẫm

một đêm

mưa nguồn"


Thể thơ lục bát của bài thơ: "Mưa nguồn" mang âm hưởng của thơ lục bát truyền thống nhưng lại biến ảo phá cách về nhịp điệu cách gieo vần và cấu tứ của bài thơ. Nhịp thơ đứt đoạn chơi vơi và mở ra những khoảng lặng gợi liên tưởng về mối giao hòa sâu sa giữa bản thể con người và thiên nhiên vũ trụ.

Ý nghĩa của tiêu đề bài thơ: "Mưa nguồn" gợi liên tưởng về nghĩa của từ: "Vũ Nguyên". Hình tượng kép của tiêu đề bài thơ gợi mở cho người đọc cảm nhận về số phận của con người và số phận của cái đẹp nhỏ nhoi trong mối tương quan với cái bao la rộng lớn của đất trời. Bài thơ: "Mưa nguồn" của Trần Hoàng Vũ Nguyên bộc lộ khát khao thầm kín mà cháy bỏng của bản thể con người trong việc hướng đến sự giao hòa với cõi uyên nguyên của vũ trụ.

Tháng 12-2009

More...

"Thiếu phụ và trăng"- Sự phục sinh của sự sống và cái đẹp- VTC

By Võ Tấn Cường



 


Trần Hoàng Vũ Nguyên

THIẾU PHỤ VÀ TRĂNG

Trăng đỏ quạch
người thiếu phụ
lẫn trong
đêm

Trăng chuyển màu trên đầu ngọn gió
mọc bóng vàng bãi hoang vu

Khói bếp vừa tắt
tiếng kinh cầu sám hối...
đôi chân trần băng qua sắc đêm
người thiếu phụ

           điềm nhiên đưa bàn tay qua nước mắt
lạc phím... bình yên
Chiếc áo choàng hờ có đủ ấm?

Ánh vàng huyền hoặc
gương soi cho tiếng thở dài
gió rít miền đau đường về ngút ngái

Trăng trầm mặc
Lạnh
Rùng mình
ngơ ngác

Từ mộ địa im lìm
người thiếu phụ tìm về cõi sống
hành lễ với nhân gian!


LỜI BÌNH:

Hình tượng vầng trăng trong thi ca thường mang vẻ đẹp của sự huyền ảo lung linh và sự tràn đầy viên mãn của cái đẹp của sự sống. Hình tượng trăng còn mang biểu tượng của sự chia ly và sự thủy chung trong tình yêu..."Vầng trăng ai xẻ làm đôi. Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường-Kiều Nguyễn Du" "Tình cờ anh gặp lại vầng trăng. Một nửa vầng trăng thôi một nửa. Trăng vẫn đấy mà em xa quá. Nơi cuối trời em có ngóng trăng lên...-Hai nửa vầng trăng Hoàng Hữu". Hình tượng trăng trong bài thơ: "Thiếu phụ và trăng" của Trần Hoàng Vũ Nguyên mang biểu tượng của sự giao hòa giữa cái đẹp tàn phai của thiên nhiên và nỗi đau của người thiếu phụ đồng thời hé lộ sự phục sinh của sự sống của cái đẹp trong cõi nhân gian.

Mở đầu bài thơ Trần Hoàng Vũ Nguyên khắc họa vẻ đẹp vầng trăng và thân phận của người thiếu phụ bằng những câu thơ sắc lạnh và cô đúc:

"Trăng đỏ quạch
người thiếu phụ
lẫn trong
đêm"

Hình tượng vầng trăng trong những câu thơ của Trần Hoàng Vũ Nguyên mang hình bóng của cái đẹp u uẩn nhưng vẫn hàm chứa sức sống vượt lên trên cả sự hoang tàn:

"Trăng chuyển màu trên đầu ngọn gió
mọc bóng vàng bãi hoang vu"

Hình tượng trăng được khắc họa như một người đồng hành với hình tượng nỗi đau của người thiếu phụ:

"đôi chân trần băng qua sắc đêm
người thiếu phụ

           điềm nhiên đưa bàn tay qua nước mắt"

Sự giao hòa giữa vẻ đẹp của vầng trăng và nỗi đau của con người vượt qua giới hạn của không gian và thời gian hướng về sự sẻ chia tri âm:

"Ánh vàng huyền hoặc
gương soi cho tiếng thở dài
gió rít miền đau đường về ngút ngái"

Sự chuyển động biến đổi của vầng trăng mang hình hài của sự sống và hơi ấm linh hồn của con người:

"Trăng trầm mặc
Lạnh
Rùng mình
ngơ ngác"

Sự giao hòa giữa vầng trăng và thế giới nội tâm của người thiếu phụ vượt lên trên cả cái chết hướng về mối giao hòa với sự sống của cõi người:

"Từ mộ địa im lìm
người thiếu phụ tìm về cõi sống
hành lễ với nhân gian!"


Hình tượng trăng trong bài thơ của Trần Hoàng Vũ Nguyên mang vẻ đẹp phảng phất nét liêu trai và gợi liên tưởng về mối giao hòa giữa cái đẹp cô đơn của vầng trăng và cái đẹp cô đơn trong tâm hồn người thiếu phụ. Bài thơ với ý thơ sắc lạnh cảm xúc nén lại phía chiều sâu của hình tượng và ngôn ngữ. Câu thơ nén chặt như tiếng nấc. Câu thơ buông lỏng như tiếng thở dài. Cảm xúc trong bài thơ tiết chế nhưng vẫn gây những giao động thẩm mỹ trong tâm hồn của người đọc. Sự tái sinh của sự sống trong tâm hồn người thiếu phụ chính là nhờ sự tri âm và đồng hành của vầng trăng? Vũ Nguyên đã làm mới hình tượng vầng trăng khi khắc họa sự phục sinh kỳ diệu của tâm hồn con người khi hướng tới sự giao hòa với vẻ đẹp của vầng trăng của thiên nhiên.


Trần Hoàng Vũ Nguyên


More...

"Trầm khúc đêm đông"- Sự thánh thiện cứu rỗi linh hồn- VTC

By Võ Tấn Cường



 

(Bình bài thơ: "Trầm khúc đêm đông" trích trong tập thơ: "Ngựa núi" của Trần Hoàng Vũ Nguyên NXB Hội Nhà Văn năm 2009)

Trần Hoàng Vũ Nguyên


TRẦM KHÚC ĐÊM ĐÔNG


Tiếng chuông

ngân vọng miền quá khứ

cuống cuồng đưa tiễn ngày


Những linh hồn bơ vơ lạc lối

lặng lẽ kiếm tìm nhau

đơn độc

đêm Chúa giáng trần


Có những mầm đau nhức nhối

buốt căm tím tái sau ngày mê

ta buộc phải treo tim lên thập giá

đóng đinh mối tình nồng

                  có phục sinh những ngày sau?

Chuông ngân

                Vang

                    v...a...ng...


Xin nhúng tay vũng lầy

vớt một linh hồn dưới đêm

đào sâu ngày trước vét cạn ngày sau

niệm đoản kinh cầu lạc mấy bận dốc quanh co

trầm khúc gió. Mưa. Rét mướt

Đông



LỜI BÌNH:


Âm hưởng của thơ ca ẩn chứa những sắc thái của giai điệu âm nhạc. Nhiều bài thơ hay đều mang âm hưởng trầm buồn lắng đọng và tạo âm ba trong tâm hồn người yêu thơ. Thơ của Trần Hoàng Vũ Nguyên giống như những bản nhạc trữ tình mang game thứ trầm. Bài thơ: "Trầm khúc đêm đông" như cung đô thứ trầm ngân vang xao động giữa hồn người. Mở đầu bài thơ hình tượng của tiếng chuông mang âm hưởng trầm vọng lên từ quá khứ:


"Tiếng chuông

ngân vọng miền quá khứ

cuống cuồng đưa tiễn ngày"


Tiếng chuông hiện ra qua lăng kính của ký ức ẩn chứa sự vội vã và hơi thở của sự sống. Tiếng chuông vọng lên vừa như sự đưa tiễn khoảnh khắc cuối cùng của ngày vừa như níu kéo hơi ấm của sự sống. Sự thánh thiện linh thiêng của tôn giáo không chỉ hàm ẩn những biểu tượng thánh thần mà còn hiện hữu trong tâm linh của mỗi người. Những câu thơ khắc họa thế giới siêu hình nhưng vẫn chất chứa khát vọng giao hòa về tâm hồn giữa con người với nhau:


"Những linh hồn bơ vơ lạc lối

lặng lẽ kiếm tìm nhau"


Cảm thức trong bài thơ: "Trầm khúc đêm đông" của Trần Hoàng Vũ nguyên hướng về sự hòa quyện giữa sự thánh thiện cao cả của tôn giáo và nỗi đau của con người trong tình yêu. Xưa đến nay các nhà thơ thường hướng cảm hứng về những biểu tượng thiêng liêng của tôn giáo để khắc họa thành những hình tượng thi ca mang hơi ấm của linh hồn và sự sống. Thi hào Tagore vĩ đại ở chỗ ông không hướng tâm linh của con người về với Chúa mà mang hình tượng Chúa về với thế giới thực tại của con người. Sự cứu rỗi của tôn giáo trong thơ Tagore chính vì thế gần gũi và mang tính máu thịt với cuộc đời mỗi con người. Tagore từng viết:

"Khi Người ra lệnh cho tôi hát

Tim tôi như muốn vỡ ra vì nỗi tự hào

Tôi nhìn lên mặt Người

Mà lệ trào đôi mắt"

(Thơ Dâng Đào Xuân Qúy dịch)


Nguyễn Tất Nhiên từng viết: "Tượng Chúa gầy hơn xưa...". Theo cái nhìn của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên biểu tượng của Chúa không xa xôi mà thân thiện mang bóng dáng sự sống của con người. Trần Hoàng Vũ Nguyên hướng cái nhìn và hướng trái tim về sự thiêng liêng của Chúa để tìm sự cứu rỗi trong nỗi đau tột cùng của tình yêu:


"ta buộc phải treo tim lên thập giá

đóng đinh mối tình nồng

                  có phục sinh những ngày sau?


Nỗi đau của tình yêu trong những câu thơ của Trần Hoàng Vũ Nguyên mang bóng dáng nỗi đau thánh thiện của Chúa? Hay là nỗi đau của Chúa biểu trưng cho nỗi đau của con người?

Cảm hứng của sự thánh thiện linh thiêng được khắc họa trong bài thơ đã vượt qua những giới hạn của sự thanh cao và vẩn đục vượt qua khoảng cách không gian và thời gian để hướng tới sự cứu độ:

"Xin nhúng tay vũng lầy

vớt một linh hồn dưới đêm"


Thế giới siêu hình và cảm hứng về sự thánh thiện thiêng liêng được khắc họa đậm nét qua ba bài thơ: "Trầm khúc đêm đông" "Thiếu phụ và trăng" và "Mộ gió" của Trần Hòang Vũ Nguyên. Đọc: "Trầm khúc đêm đông" của Trần Hoàng Vũ Nguyên người yêu thơ không bị chìm vào nỗi đau tuyệt vọng mà hướng tâm hồn về thế giới của sự thiêng liêng thánh thiện để tìm kiếm sự cứu rỗi. Đúng như
Đoxtoiepxki từng tiên đoán: "Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới".



Trần Hoàng Vũ Nguyên





More...

"Mộ gió" và siêu hình của tình yêu- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường


 



(Bình bài thơ: "Mộ gió" của Trần Hoàng Vũ Nguyên)



Trần Hoàng Vũ Nguyên


MỘ GIÓ


Con tim nghẹn đầy linh cảm
lòng biển mênh mông

                        sóng bạc đầu đuổi nhau bất tận
về đâu mùa bão


Ráng chiều vàng vọt liêu xiêu đổ bóng
khói hương nát- cây bàng biển sù sì mốc đợi

Biển lồng lộng gió
các loài ốc rực rỡ sắc màu
Anh đi tìm kỳ lạ nơi những miền ốc ảo
sao chẳng về với ốc đảo riêng em?

Mịt mùng

biển khơi

Em lên Giếng Tiền mong tìm

                                  chút hư vô bằng lòng thành kính

núi lửa im lìm ngúm lạnh phế tàn hoang
Mặt trơ cát trắng hồn cỗi gió
buốt tê lòng nặn tượng đất thay cho tình nhớ
chẻ cây dâu - xương sườn người đứng
vốc đất nước mắt - sống lá gan
cắn tay mình quét cho da anh rạng rỡ

Em lập đàn cúng chiêu hồn ròng rã
gọi tình yêu nhập lại trái tim người
Khật khừ áng văn đầy mộng mị
em âm thầm tế sống luôn em
Hắt ly rượu trắng đời nhau thả huyệt
Mồ đã đắp - tình đã chết

Hoàng hôn gió âm âm lời câu kinh cầu tế độ

vọng vong tình
hút mắt nghe vòm nắng chở biệt ly

Đảo Lý Sơn 05.2009



LỜI BÌNH:



Tựa bài thơ: "Mộ gió" gợi liên tưởng về hình tượng nấm mộ gió được ngư dân đắp bên bờ biển dành cho những vong hồn mất xác giữa biển khơi. Thế nhưng hình tượng mộ gió trong bài thơ của Trần Hoàng Vũ Nguyên chỉ mang tính tượng trưng và hình tượng này đã được chuyển dịch từ thế giới hiện thực sang thế giới siêu hình nên mang tính biểu tượng và sắc thái biểu cảm mới-nấm mộ siêu hình của tình yêu. Nấm mộ siêu hình của tình yêu được Trần Hoàng Vũ nguyên tạo dựng bằng hình tượng ngôn ngữ như thế nào? Liệu tác giả có thể vùi chôn được một tình yêu đã chết?

Câu thơ mở đầu tác giả không khắc họa không gian cụ thể sự tự ý thức về bản ngã của tác giả được khắc họa đột ngột và bất ngờ:

"Con tim nghẹn đầy linh cảm

lòng biển mênh mông

                        sóng bạc đầu đuổi nhau bất tận"

Qua hai câu thơ nhà thơ đã khắc họa được không gian tâm tưởng với sự linh cảm của trái tim trước bất trắc của cuộc đời tương phản với không gian rộng lớn bao la của biển cả gợi ấn tượng mạnh về thân phận nhỏ bé mong manh của kiếp người.

Bản chất của tình yêu chính là sự tìm kiếm và khám phá của người đang yêu về những bí ẩn của tâm hồn tính cách đối tượng yêu. Thế nhưng điều trớ trêu trong mối quan hệ tình yêu được Trần Hoàng Vũ Nguyên khắc họa lại là sự "lệch pha" giữa đối tượng tìm kiếm và đối tượng chờ đợi. Cái tam giác của tình yêu như một định mệnh trêu ngươi. Câu thơ hàm chứa sắc thái biểu cảm về sự trách cứ nhẹ nhàng thấm thía đối với người yêu và sự tủi phận của người phụ nữ:

"Anh đi tìm kỳ lạ nơi những miền ốc ảo
sao chẳng về với ốc đảo riêng em?"

Sự "lệch pha" trong mối quan hệ tình yêu dẫn đến hệ quả con người đành đi tìm kiếm hình bóng người yêu trong thế giới tưởng tượng và siêu hình:


"Mặt trơ cát trắng hồn cỗi gió
buốt tê lòng nặn tượng đất thay cho tình nhớ"

Phải chăng tình yêu biểu trưng cho sự sống sự sinh sôi bất tận nhưng cũng biểu trưng cho cả sự chết? Thế giới siêu hình và sự chết của tình yêu đã được Trần Hoàng Vũ Nguyên khắc họa bằng ngôn ngữ sắc lạnh pha lẫn sự ma mị:


"Em lập đàn cúng chiêu hồn ròng rã
gọi tình yêu nhập lại trái tim người
Khật khừ áng văn đầy mộng mị
em âm thầm tế sống luôn em
Hắt ly rượu trắng đời nhau thả huyệt
Mồ đã đắp - tình đã chết"

Arthur Schopenhauer từng viết: "Cứu cánh tối hậu của mọi chuyện tình dù sang hay hèn thật ra vẫn quan trọng hơn mọi mục đích khác của đời sống con người và do đó đáng được mỗi người theo đuổi nó một cách vô cùng thành khẩn..." (Siêu hình tình yêu siêu hình sự chết NXB Văn Học năm 2006 trang 44). Đúng như Arthur Schopenhauer đã viết sự thành khẩn của thái độ và giọng điệu của chủ thể trữ tình trong những câu thơ của Trần Hoàng Vũ nguyên cho thấy tình yêu dù đã chết vẫn mang giá trị của vẻ đẹp thiêng liêng đáng ca ngợi. Những câu thơ không hề ủy mị sướt mướt mà như một nhát dao cắt vào lòng người gợi liên tưởng về một vết thương tình yêu thời quá khứ.


Xưa nay thơ siêu hình của các nhà thơ Việt Nam vốn không nhiều thơ siêu hình về tình yêu lại càng hiếm hoi. "Văn chiêu hồn" của Nguyễn Du và "Điêu tàn" của Chế Lan Viên chính là những tác phẩm siêu hình của sự chết. Thế còn siêu hình của tình yêu? Tôi đã từng đọc thơ siêu hình về tình yêu thấp thoáng qua những bài thơ của Vi Thùy Linh Văn Cầm Hải Nguyễn Hữu Hồng Minh Huỳnh Thúy Kiều Vương Huy. Và bây giờ thật thú vị khi được cảm nhận những câu thơ siêu hình về tình yêu trong bài thơ: "Mộ gió" của Trần Hoàng Vũ Nguyên. Siêu hình tình yêu trong bài thơ: "Mộ Gió" của Trần Hoàng Vũ Nguyên chính là sự khắc họa thế giới tâm linh của người phụ nữ trong việc cứu độ sự sống của trái tim và sự khẩn cầu linh thiêng về một tình yêu đã chết. Tình yêu đã chết trong thực tại nhưng tình yêu vẫn sống trong thế giới siêu hình và trong trái tim con người. Có phải vậy không những người đã từng yêu và đang yêu?



Trần Hoàng Vũ Nguyên

More...

Bình bài thơ: "Hạt giống" của Huỳnh Thúy Kiều- Võ Tấn Cường

By Võ Tấn Cường


 

HẠT GIỐNG

Huỳnh Thúy Kiều

Như con đom đóm gieo vào đêm vệt sáng
Anh gieo vào em đường đi của một tinh cầu
Đâu là dấu vết ?
Nụ cười rách ánh trăng tan vào tán lá
Dưới bóng mình nửa mùa còn sót lại chút mầm xanh ...

Hạt giống anh gieo
Cánh đồng em chưa đến ngày đậu quả
Làn sóng buồn khép mắt lũ chờ nhau
Bàn tay ran buốt chạm kẽ ván lùa
Soi gương đau rớt dải Ngân Hà mây giăng ...

Hạt giống anh gieo đang cựa quậy rất khẽ từng tế bào cảm xúc
Biển hồi sinh hay em hồi sinh ?
Ngực thu hờn tuột cúc
Bờ đức hạnh ì ạch dát tỏ mờ
Nỗi ai ?

Gió đừng thổi nữa mù say
Anh gieo vào em trùng trùng âm thanh gọi khát
Lông chông hạt giống
Em biết
Niềm mơ chào đời từ trên  đỉnh yêu mơ ...

Cà Mau 27.7.2008

H.T.K

Lời bình của Võ Tấn Cường:

Ấn tượng ban đầu của tôi về bài thơ:"Hạt giống" của Huỳnh Thúy Kiều (HTK) là sự lạ lẫm táo bạo về hình tượng chủ đạo của bài thơ và ngôn ngữ biểu hiện. Ngay tiêu đề của bài thơ đã là sự đa nghĩa gợi liên tưởng về ý nghĩa theo hai hướng khác nhau: ươm mầm cho sự sinh sôi cụ thể và sự sinh sôi của tâm hồn của tinh thần....Tác giả hơi "liều" nhưng cũng "cao tay" khi chọn hình tượng và tứ thơ rất dễ rơi vào hai thế chông chênh: thanh cao nhưng lại thoát ly thực tế và bài thơ dễ sáo mòn giả tạo; quá gần hiện thực nhưng bài thơ dễ rơi vào dung tục tầm thường...Đọc một mạch bài thơ tôi thở phào nhẹ nhõm vì thấy HTK đã vượt qua ranh giới mong manh của hai tình thế này một cách xuất sắc và bài thơ đã gây ấn tượng mạnh về vẻ đẹp sinh sôi của tình yêu trong tâm hồn và trái tim của người phụ nữ đang yêu..

Ba câu thơ mở đầu rất bất ngờ có vẻ chẳng ăn nhập gì với tiêu đề của bài thơ cả. Nhưng trong mạch ngầm của ý nghĩa mối liên hệ của sự tương giao giữa hai sự vật lại nhen nhóm và hé mở tứ thơ. Sự tương giao giữa các sự vật trong tự nhiên đều biểu hiện bằng hình ảnh và âm thanh nhưng trong tình yêu thì lại vô hình khó nắm bắt:

"Như con đom đóm gieo vào đêm vệt sáng

Anh gieo vào em đường đi của một tinh cầu

Đâu là dấu vết ?"

Câu hỏi tư từ gây sự ẩn ức và băn khoăn đồng thời khơi gợi dẫn dắt người đọc hướng đến khoảng trời của sự liên tưởng thật thú vị và bay bổng. Tứ thơ chưa lộ diện nhưng đã hé lộ những điều thú vị về sự bí ẩn trong tương giao tình yêu. Tình yêu không chỉ gieo mầm sự sống mà còn gieo mầm sáng tạo....

Khổ thơ thứ hai hình tượng chủ đạo của tứ thơ bắt đầu hé mở:

"Hạt giống anh gieo
Cánh đồng em chưa đến ngày đậu quả"

Sự ẩn dụ kép: "Hạt giống anh" và "Cánh đồng em" đã nâng câu thơ lên tầm cao của vẻ đẹp tượng trưng không làm cho người đọc liên tưởng đến hình ảnh cụ thể... Đây là thủ pháp nghệ thuật HTK thường sử dụng tạo nên sức khơi gợi mạnh mẽ về sự biểu cảm ý nghĩa của câu thơ. Qua tài khắc họa của HTK sự tương giao của hai người yêu nhau không còn là hành động cụ thể mà đã mang tính tượng trưng ấn tượng bay bổng trong thế giới cảm xúc và liên tưởng của người đọc. Ba câu thơ tiếp theo những hình ảnh cụ thể và tượng trưng tiếp tục đan xen và hòa quyện lẫn nhau trong từng câu thơ mở ra sự liên tưởng về dự cảm trong mối quan hệ tương giao của tình yêu: sự sống nhen nhóm nỗi đau và hạnh phúc hòa quyện. Ở khổ thơ này tứ thơ đã lộ một nửa nhưng vẫn còn nhiều bí ẩn khơi gợi sự khám phá của người đọc. Thì ra hạt giống tinh thần gieo trên cánh đồng tình yêu nhưng đã gặp bao bất trắc và trở ngại và cả những ám ảnh xa xăm về nỗi đau mơ hồ xa vắng....Sợi chỉ đỏ của tứ thơ vẫn chưa tìm ra đầu mối. Tác giả đã thật khéo khi giữ mối dây chưa để người đọc tự lần tìm. Vẫn còn nhiều bất ngờ ở những khổ thơ sau...

Khổ thơ thứ ba cái nhìn của chủ thể trữ tình hướng vào bên trong tự khám phá những biến đổi của thế giới nội tâm. Hình tượng "cánh đồng" đã biến đổi thành: "tế bào cảm xúc". Hình tượng trong câu thơ này cụ thể mang tính máu thịt và được nhân hóa gần gũi với ấn tượng của con người về sự sống sinh sôi. Sự sinh sôi cũng chính là sự hồi sinh thật mãnh liệt dữ dội và bao la:

"Biển hồi sinh hay em hồi sinh ?

Ngực thu hờn tuột cúc

Bờ đức hạnh ì ạch dát tỏ mờ

Nỗi ai ?"

Câu thơ: "Ngực thu hờn tuột cúc" mang vẻ đẹp phồn thực pha chút sex đẹp kín đáo và thanh thoát nhưng sức gợi lại rất mạnh mẽ. Sự tương giao trong tình yêu đã được thăng hoa bằng những hình tượng mang vẻ đẹp của sự dâng hiến trong quan hệ tính giao của tình yêu...

Ba câu thơ đầu của khổ thơ cuối ý nghĩa được tô đậm nhấn mạnh thêm ấn tượng về những bất trắc của ngoại giới sự kỳ diệu của hạt giống tình yêu và cả những khó khăn mà hạt giống tinh thần gặp phải. HTK dùng cụm từ: "Lông chông hạt giống" gợi liên tưởng về sự bất trắc không chỉ ở hoàn cảnh bên ngoài mà chính cả bên trong của hạt mầm sự sống. Tứ bài thơ tưởng đã hé lộ hoàn toàn nhưng thực ra không phải. Cái nền của toàn bộ bài thơ đã chắp cánh cho câu thơ cuối bay vút vào thế giới mộng tưởng và cảm xúc của người đọc. Câu thơ cuối không nặng về cảm xúc như những khổ thơ trên mà đã là sự tự ý thức của chủ thể trữ tình:

"Em biết

Niềm mơ chào đời từ trên  đỉnh yêu mơ ..."

Sự ý thức của nhân vật trữ tình khiến cho bài thơ nâng lên tầm khái quát về ý nghĩa và hình tượng của tứ thơ. Tứ thơ vừa phát lộ nhưng đã vút lên vòm trời tưởng tượng gợi hình ảnh ý nghĩa thật sâu sa: vẻ đẹp của sự sống sự sinh sôi trong mối quan hệ tương giao của tình yêu chỉ có thể thăng hoa trong sự khát vọng và sự tinh khiết thanh cao trong tình cảm của đôi lứa yêu nhau.Con đường và cảm hứng sáng tạo cũng sinh ra từ sự thăng hoa kỳ diệu của tình yêu....Mạch cảm xúc và kết cấu của tứ thơ trong bài thơ này thật bất ngờ và độc đáo. HTK đã dẫn dắt người đọc đi vào mê cung của tình yêu để hướng tới chân trời của khát vọng sáng tạo.

Bài thơ này mang vẻ đẹp phồn thực trong mối quan hệ tính giao của tình yêu và sự sinh sôi của ý tưởng hạt mầm sáng tạo trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu. Lạ lẫm táo bạo quyến rũ vẫn là ấn tượng cuối cùng còn đọng lại khi tôi thưởng thức bài thơ này. Điều quan trọng hơn vẫn là bản lĩnh sáng tạo của HTK đã thêm một lần được khẳng định.

More...